THỜI TRANG

CHIA SẺ

KHÁM PHÁ

SỨC KHỎE

GÓC TRÁI TIM

XÃ HỘI

NHỊP SỐNG TRẺ

BÀI VIẾT MỚI

12 CHÒM SAO

TÔI NHỚ

TÔI YÊU

TÔI TÂM SỰ

TÔI HẠNH PHÚC

BÀI MỚI NHẤT

TIN ẢNH

TIN SHOWBIZ

LÀM ĐẸP

Hiển thị các bài đăng có nhãn Miền Trung. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Miền Trung. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2016

Cầu Ngói Thanh Toàn (Huế)

Tạm xa thành phố Huế đang tưng bừng với nhiều chương trình nghệ thuật, du khách có thể đến với lễ hội "Chợ quê ngày hội" (khai mạc ngày 13/4) ở cầu ngói Thanh Toàn (làng Thanh Thủy Chánh, xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy) để dạo một vòng phiên chợ quê mộc mạc và ngắm nghía vẻ đẹp của vùng nông thôn ngoại ô thanh bình, yên ả.


Quang cảnh chợ quê ngày hội bên dòng sông Như Ý.
Ngay trên đường đi, du khách đã có thể cảm nhận được cảnh nông thôn dân dã, gần gũi. Qua khỏi địa phận Huế, đi vào con đường làng đẹp như tranh vẽ, hai bên đường là những ruộng lúa, rặng tre nối tiếp nhau, với con đò nhỏ trên dòng kênh tĩnh lặng, đàn vịt bơi chậm rãi dưới ao, dừng xe đón ngọn gió quê mát rượi hòa lẫn mùi thơm dịu của bông lúa trổ đòng, du khách như tan cả những mệt mỏi vì không khí ồn ào, náo nhiệt của phố phường đông đúc.

Con đường làng thơm nồng hương lúa trổ đòng.

Chiếc đò nhỏ.

Đàn vịt lội trong ao.
Đến chợ, khách tham quan sẽ được thưởng thức những hoạt động mua bán đậm nét truyền thống của vùng nông thôn: người dân thôn quê đem đến đây mớ tôm, mớ tép, buồng cau, nải chuối, mớ rau từ vườn nhà, con gà, con vịt mới nuôi, mới ấp, con heo mới xuất chuồng... Kia là hàng rau, hàng quả của các mệ, các o, phía bên này những con tôm, con cá quẫy đuôi, bật nhảy tanh tách. Xa xa, mùi thơm từ các món ăn dân dã gắn liền với nhà nông khiến du khách chẳng thể đặng đừng.


Một góc chợ.

Gánh hàng rong.

Những vật dụng thôn quê: đôi quang gánh, thúng, mủng, rế,...

Nông sản địa phương.
Cứ thế, phiên chợ quê níu chân du khách ghé mua sản vật địa phương như nón lá Thủy Thanh, chuối ba lùn Thủy Vân, trái cây, nếp thơm,... ở các gian trưng bày; đến thưởng thức những món ăn dân giã như cơm hến, bún trộn, bánh canh cá lóc Thủy Dương, khoai luộc Thủy Thanh; làm quà cho trẻ nhỏ cái bánh ít, bánh ú, bánh gai, bánh nậm, bánh lọc, hay giải tỏa cơn nóng bức của mùa hè bằng bát chè bột lọc, chè khoai tía, chè bắp, chè bông cau, chè đậu, cốc rượu nếp, bát chè xanh,...

Tò he...

... thu hút du khách.

Khách nghỉ chân thưởng thức chén đậu hũ...

... uống bát chè xanh.

... xem gói bánh chưng, bánh tét.
Điểm thu hút người dự hội nhất dĩ nhiên là chiếc cầu mái ngói Thanh Toàn. Ghé qua cầu, dừng chân nghỉ trong làn gió mát, ngắm nhìn kiến trúc cổ độc đáo, lắng nghe những âm thanh lao xao của phiên chợ, tất cả tạo cho du khách một cảm xúc khó tả.

Cầu ngói Thanh Toàn.
Sau khi dạo chợ và nghỉ ngơi thật thoải mái, khách tham quan có thể ghé gian trưng bày nông cụ với nhiều hiện vật tái hiện không gian làng quê đặc trưng và những hình ảnh ước lệ nếp sinh hoạt của người nông dân Việt Nam. Tại đây, du khách có thể thử một lần làm nông dân đạp nước, tát nước trên đồng, xay lúa, giã gạo, sàng, sẩy, câu cá, cất vó,... để cảm thông với những nhọc nhằn vất vả của nhà nông.

Du khách "nhí" nước ngoài thử làm nông dân Việt Nam.

Hội bài chòi.

Một gian hàng mời du khách giải thế trận cờ tướng.

Ném bi.
Ngay bên cạnh khu trưng bày nông ngư cụ là Hội thi làm nón bài thơ. Trước sự quan sát của đông đảo người xem, các o, các chị tham gia cuộc thi vẻ như lúng túng, ngượng ngùng, nhưng khi hiệu lệnh thi bắt đầu, thì các đôi tay đã thoăn thoắt, nhịp nhàng những thao tác xây nón, chằm nón gọn ghẽ, đều săm sắp. Với nhiều du khách, đặc biệt là khách nước ngoài, được mục sở thị những công đoạn làm nên chiếc nón lá mỏng manh mà hữu dụng thật sự khiến họ thích thú.

Hội thi làm nón bài thơ.

Để làm được 1 chiếc nón bài thơ phải mất rất nhiều công đoạn. Bắt 16 cái vành vào khung...

Kết lá.

Xây nón.

Đặt hình câu thơ vào giữa chiếc nón.

Chiếc nón đã chằm xong đang thực hiện những công đoạn cuối cùng, đột đầu...

nức vành,...

... và bỏ xoài.
Và một phên chợ quê ngày hội cuốn hút, hấp dẫn bởi những chương tình gắn liền với các hoạt động đời thường như thế, khiến du khách vừa rời đi đã lại hẹn hò:
"Ai về cầu ngói Thanh Toàn
Cho em về với một đoàn cho vui"
Nguồn: Hue.vnn

Thứ Năm, 21 tháng 4, 2016

Món Bánh Đập Hến ở Hội An

Hội An không chỉ hấp dẫn du khách bởi những con phố cổ kính, mà những món ăn địa phương ở đây cũng làm du khách mê mẩn. Bánh đập hến là một trong những món ăn không thể không nhắc đến
Nhắc đến món bánh đập (gồm bánh ướt và bánh tráng nướng) ở Hội An, Đà Nẵng, chắc hẳn nhiều người đều biết đến. Thậm chí một số du khách từng ghé đến đây lúc chập choạng tối còn có thể kể chính xác  hương vị món này khi ngồi ăn ở gánh hàng rong dưới chân cầu. Bánh đập Hội An là món khá phổ biến, nhưng kết hợp cùng với hến xào thì vẫn còn mới mẻ đối với nhiều thực khách.


Bánh đập hến Hội An
Hấp dẫn món bánh đập hến Hội An

Khi đặt chân đến Hội An và trò chuyện với dân địa phương để khám phá ẩm thực, bạn sẽ nghe nhắc đến Cồn Hến nổi tiếng ở khu vực Cẩm Nam thuộc phố cổ. Hến ở đây rất ngon, chắc thịt dù kích thước nhỏ xíu. Mỗi lần bắt được hến là nhiều người nghĩ đến việc chế biến xào sơ để ăn cùng bánh đập. Cứ như vậy rồi món này trở nên quen thuộc và là đặc sản khó lòng bỏ qua của bất kỳ ai đặt chân đến. 
Bánh đập hến Hội An
Bánh đập hến xào có cách chế biến đơn giản, không cầu kỳ nhưng lại tạo nên nét đặc sắc ẩm thực ở Hội An.

Để chế biến món này, hến được xào một cách đơn giản để giữ được độ ngọt. Người đầu bếp sẽ cho chút dầu ăn vào chảo, đổ hến vào đảo qua đảo lại và nêm nếm chút gia vị vừa phải. Tiếp đó, họ sẽ đổ thêm các nguyên liệu như đậu phộng, hành phi, sa tế, thêm chút vừng và rau răm. Cuối cùng đổ ra đĩa nhỏ và dùng cùng với bánh đập.

Khi thưởng thức, thực khách sẽ cảm được vị thơm ngọt nhè nhẹ của bánh đập, vị mặn của hến xào và gật gù vì độ đơn giản nhưng vẫn ngon miệng của món này. 

Du khách đến Hội An muốn thưởng thức món dân dã này, có thể đi qua cầu Cẩm Nam chừng 100 mét, hỏi người dân về khu bán. Họ sẽ chỉ bạn đến một nơi tập trung trên dưới 10 quán chỉ chuyên bán bánh đập hến xào. Giá một phần ăn từ 15.000 đến 20.000 đồng. 
Theo dulichvietnam.com.vn

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2015

Bệnh xá Đặng Thùy Trâm (Quảng Ngãi)

Liệt sĩ-Bác sĩ Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26/11/1942, là người con của quê hương Thừa thiên-Huế nhưng sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Cha là Bác sĩ ngoại khoa Đặng Ngọc Khuê, mẹ là Dược sĩ Doãn Ngọc Trâm-nguyên là giảng viên Trường Đại học Dược khoa, Hà Hội. Khu di tích lịch sử văn hoá bao gồm: Bệnh xá Đặng Thuỳ Trâm ở xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ cùng các điểm di tích lịch sử gắn liền với hoạt động của bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm trong chiến tranh như: Trạm phẫu thuật tiền phương ở núi Bộng Dầu, thôn Quy Thiện, xã Phổ Khánh; hầm bí mật tại vườn nhà y sĩ Tạ Thị Ninh ở thôn Nga Mân, xã Phổ Cường; Bệnh xá Đức Phổ tại đồi gò Chày thôn Đồng Răm 1, xã Ba Khâm; Bệnh xá Đức Phổ tại thôn Nước Đang ở xã Ba Trang (huyện Ba Tơ ).

Bệnh xá Đặng Thùy Trâm, Quảng Ngãi
Bệnh xá Đặng Thùy Trâm, Quảng Ngãi
Năm 1966, sau khi tốt nghiệp trường đại học Y khoa Hà Nội. Đặng Thuỳ Trâm mang theo sức trẻ, ý trí chiến đất cùng những hoài bão của tuổi trẻ, cô đã xung phong lên nhận nhiệm vụ của một thầy thuốc ở chiến trường Miền Nam. Nơi công tác của cô là: bệnh viện huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, trong khi làm nhiệm vụ tại địa bàn đã bị địch phục kích và anh dũng hy sinh vào năm 1970 khi còn rất trẻ, chỉ mới chưa đầy 28 tuổi đời với 3 năm tuổi nghề và 2 năm tuổi Đảng. Nhân dân địa phương đã an táng Chị ngay tên mãnh đất mà Chị đã hy sinh và được gia đình cải táng về nghĩa trang Liệt sĩ xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Thủ đô Hà Nội.
Bệnh xá Đặng Thùy Trâm, Quảng Ngãi
Bệnh xá Đặng Thùy Trâm, Quảng Ngãi
Trong hành trang để lại trước lúc hy sinh của Chị là 2 cuốn nhật ký đã được một cựu chiến binh Mỹ tên là Frederic Whitehurst từng tham chiến tại chiến trường huyện Đức Phổ tìm thấy và cất giữ. Do khó khăn trong việc tìm kiếm gia đình của Bác sĩ Đặng Thùy Trâm và đã tưởng như tuyệt vọng, 2 cuốn nhật ký nầy được Frederic Whitehurst trao tặng cho Viện Lưu trữ về Việt Nam tại Trường Đại học Tổng hợp Texas, Lubbock lưu giữ và bảo quản.
Bệnh xá Đặng Thùy Trâm, Quảng Ngãi
Bệnh xá Đặng Thùy Trâm, Quảng Ngãi
Có thể nói với sức ảnh hưởng sâu rộng của cuốn nhật ký Đặng Thuỳ Trâm là một trong những tâm gương sáng cho việc giáo dục tinh thần và chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời hiện đại… Vì thế mà ngày nay đây là một điểm thăm quan rất nổi tiếng của giới trẻ mỗi khi họ có cơ hội về thăm Quảng Ngãi.

Thánh Địa La Vang (Quảng Trị)

Đức Mẹ La Vang là tên gọi mà giáo dân Công giáo Việt Nam đề cập đến hiện tượng Đức Mẹ Maria hiện ra trong một thời kỳ mà đạo Công giáo bị bắt bớ tại Việt Nam. La Vang ngày nay là một thánh địa và là nơi hành hương quan trọng của người Công giáo Việt Nam, nằm ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, thuộc Tổng Giáo phận Huế. Các tín hữu tin rằng, Đức Mẹ Maria hiển linh ở khu vực này vào năm 1798. Một nhà thờ đã được xây dựng gần ba cây đa, nơi họ tin là Đức Mẹ đã hiện ra và được Tòa Thánh tôn phong là Tiểu Vương Cung Thánh đường La Vang từ năm 1961. [1] Đây là một trong ba trung tâm hành hương Công giáo được chính quyền Việt Nam công nhận.

Theo một thuyết, dưới thời vua Cảnh thịnh nhà Tây Sơn có chính sách chống đạo Công Giáo. Cho nên để tránh sự trừng phạt của nhà Tây Sơn, nhiều giáo dân ở vùng Quảng Trị đã chạy lên vùng đất này. Đây là khu vực đồi núi hẻo lánh nên để liên lạc với nhau được thì họ phải “la” lớn, mà “la” lớn thì “vang”. Cái tên La Vang ra đời.

Một giả thuyết tương tự về tiếng “la vang” đã từ đặc tính của âm thanh chuyển thành danh từ riêng, nói rằng nơi chốn rừng rú này xưa kia có nhiều cọp beo hại người. Do đó, những người đi rừng nếu ở lại đêm thì thường chia nhau thức canh, thấy động thì “la vang” lên để mọi người đến tiếp cứu.
Một cách giải thích khác là khi giáo dân chạy lên vùng đất này thì bị dịch bệnh, lúc bấy giờ Đức Mẹ đã hiện ra và chỉ dẫn cho họ đi tìm một loại lá gọi là lá vằng – uống vào sẽ chữa khỏi bệnh. Viết “lá vằng” không dấu thành La Vang.
Một thuyết khác cho là địa danh “phường Lá Vắng” đã có từ trước đó, thuộc làng Cổ Vưu, nằm về phía Tây cách đồn Dinh Cát, về sau là tỉnh lỵ Quảng Trị, 4 cây số và cách Phú Xuân, tức Kinh Đô Huế, 58 km về phía Bắc.
Lịch sử Đức Mẹ hiện ra và lập nhà thờ không rõ ràng vì đã quá lâu và không được biên chép từ thời đó, hầu hết chỉ có lời truyền khẩu và nhiều giả thuyết khác nhau. Có giả thuyết là nhà thờ La Vang vốn được xây trên nền của một mái chùa Phạt giáo  hoặc là một miếu thờ Bà (có thể là Phật bà quan âm hoặc bà chúa Liễu Hạnh) cho người đi rừng,nguyên là một mái nhà tranh dưới gốc cây đa và rào sơ bốn mặt, sau biến cố Mẹ Maria hiện ra năm 1789 được nhường cho giáo dân để xây một nơi thờ Mẹ Maria .Ý kiến khác cho rằng La Vang trước đó chỉ là một vùng hoang vắng, vùng rừng núi hẻo lánh.
Theo giám mục Hồ Ngọc Cẩn kể lại lời truyền khẩu là năm 1885 nhà thờ bị đốt, và một nhóm giáo dân La Vang dựng lại nhà thờ Đức Mẹ trên nền cũ.Cha sở quản hạt Quảng Trị Patinier Kinh trong báo cáo năm 1894 có viết: “Năm 1885 ngôi nhà thờ ở đây cũng như những nhà thờ khác trong hạt, không thoát khỏi thảm họa… Khi hòa bình vừa vãn hồi, con đã cấp tốc dựng lại ngôi nhà thờ nhỏ bé, tạm bợ để chờ nguồn kinh phí cũng như để chờ cho tình hình bớt nhiễu nhương”. Năm 1886 (có bản ghi là năm 1894) Đức Cha Caspar (Lộc) cho xây lại nơi đây đền thờ ngói, vì xây trên một vùng núi vận chuyển vật liệu khó khăn nên 15 năm mới hoàn thành. Năm 1901, đại hội La Vang đầu tiên được tổ chức vào ngày 08 tháng 08 để mừng khánh thành nhà thờ.
Năm 1924, nhận thấy ngôi nhà thờ ngói quá chật hẹp, lại đã xuống cấp cho nên một đền thánh La Vang theo đồ án của kiến trúc sư Carpentier được dựng lên thay thế và được khánh thành vào ngày 20 tháng 08 năm 1928, nhân dịp Đại hội La Vang 9. Thánh đường này được trùng tu năm 1959. Trong phiên họp ngày 13 tháng 04 năm 1961 Hội Đồng Giám Mục Miền Nam đã đồng thanh quyết định La Vang là Trung tâm Thánh Mẫu Toàn quốc. Trong chiến cuộc Muà Hè 1972, bom đạn đã làm sập đổ hoàn toàn Vương Cung Thánh Đường, chỉ còn lại di tích tháp chuông loang lở. Từ năm 1995, tháp chuông và những công trình liên hệ như Nhà nguyện Đức Mẹ (một mái nhà tôn sau tháp cổ), Nhà nguyện Thánh Thể (xây từ năm 2002), Công trường Mân Côi, Lễ đài, Nhà hành hương (xây từ năm 2004), 3 cây đa (nơi Đức Mẹ hiện ra)… được tu sửa hay dựng mới.
Năm 2008, Thánh địa được chính quyền tỉnh Quảng Trị cấp thêm 21 ha dất để “phục vụ hoạt động tín ngưỡng của giáo dân”. Theo linh mục Giacôbê Lê Sĩ Hiền (quản nhiệm Trung tâm Thánh mẫu La Vang), đây là đất xưa từng thuộc về nhà thờ (trước 1975 là 23 ha) nay được giao trả lại.



Thứ Tư, 19 tháng 8, 2015

Đến Thác Cái (Phú Yên)


Trên tuyến quốc lộ số 2 Tuyên Quang - Hà Giang có một ngôi đền mang tên Thác Cái. Đền Thác Cái nằm tại đỉnh dốc ở km64 thuộc xã Yên Phú, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.


< Đây là nơi khí thiêng sơn thủy hội tụ, bốn mùa thời tiết trong lành mát mẻ, tĩnh mịch.

Mặt trước ngôi đền hướng về phía sông Lô, nơi có một khu đá thác lớn hiểm trở chắn ngang sông, quanh năm nước réo, thuyền bè đi lại rất khó khăn.
Do sự đổi thay của thời gian, ngôi đền nhiều lần thành phế tích, rồi lại phục hồi. Gần đây, đền Thác Cái được một số người tái lập làm nơi thờ phụng nhưng ít ai biết tường tận về lịch sử ngôi đền này.



< Đền nằm ở chân một ngọn núi lớn.


Việc tìm hiểu nguồn gốc đền Thác Cái, chúng tôi dựa vào các tài liệu lịch sử, các sách địa chí, các ghi chép về danh lam thắng cảnh của các nhà Nho, ghi chép của các thầy địa lý, những người làm nghề sông nước lâu đời, các cụ cao niên ở địa phương và kết hợp khảo sát thực tế về các di vật cũ của đền cùng các sinh hoạt thờ cúng trong nhân dân vv… Tất cả cho thấy một bức tranh khái lược về lịch sử nơi thờ vọng được hình thành từ nhu cầu tín ngưỡng và tục thờ Thần Mẫu gắn với một địa hình hiểm trở từ ngàn xưa từng gây nhiều tai họa cho con người mỗi lần vượt thác.



< Cảnh sắc núi non đẹp đẽ và linh thiêng.


Trước thời Pháp thuộc, mạch giao thông Tuyên Quang- Hà Giang chủ yếu bằng đường thủy và men theo sông Lô là con đường bộ nhỏ heo hút, nhân dân đã lập một am nhỏ làm nơi nghỉ chân và bái vọng. Từ thế kỷ XV, trong sách Dư địa chí (Nguyễn Trãi), Thác Cái có tên là Tiên thiềm mẫu tử (Cóc mẹ cóc con), ám chỉ đá thác mấp mô hiểm trở liên kết nhau. Thác nước chảy mạnh tạo âm thanh lớn có tên là Hý tượng cảng (Thác voi rống), Tẩu mã cảng (Thác ngựa phi) để diễn tả sự dữ dội của nó. Đến thế kỷ XVIII, trong một lần hành binh qua đây, chúa Trịnh Sâm đã ra lệnh phá đá thác nhưng thất bại, chúa phải sai giết bò tế đá thác để cầu an…



< Mặt trước ngôi đền hướng về phía sông Lô...


Tấm văn bia cổ trong điện thờ cũ có dòng chữ Hán: “Đại Than thủy khẩu, cảm ứng Long Mẫu nương nương thần vị”. Đại ý là: Ghềnh đá lớn cửa sông cảm ứng các vị Thần Mẫu”. Trước năm 1978, khi ngôi đền còn nguyên vẹn, trên ban thờ chính điện có một bức tượng Long Mẫu và hai bên, mỗi bên có một tượng Nương Thần bằng gỗ. Theo tục tế lễ của người dân ven sông, Long Mẫu được xem là vị thần tối thượng, trong lời khấn Nôm được gọi là Bà chúa Thượng ngàn (hay Chúa Bà).



< ... nơi có một ghềnh đá thác lớn chắn ngang sông, quanh năm nước réo.


Trong bài tế đó có kèm lời phụng hai vị Nương Thần là Ngọc Nương và Phương Nương. Theo truyền thuyết từ thời đại Hùng Vương, đó là Ngọc Lân công chúa và Phương Dung công chúa. Hai vị nương Thần này đã được thờ làm chính Thần ở đền Hạ và đền Thượng (thị xã Tuyên Quang), đã được ghi trong Đại Nam Nhất Thống chí. Như vậy, đền Thác Cái bắt nguồn từ tục thờ Mẫu của nhân dân Lạc Việt có từ xa xưa trong lịch sử.

Về ý nghĩa của địa danh: Đại than thủy khẩu, có nghĩa là Ghềnh đá lớn cửa sông, đá thác lớn, cách gọi Nôm là: Thác Cái để phân biệt với Thác Con ở khúc sông khác. Cụm từ: Cảm ứng long mẫu nương nương Thần vị, như trên đã nói đều tương ứng với truyền thuyết và phong tục tín ngưỡng vốn có trong nhân dân (Thánh Mẫu cùng hai nương Thần).

< Từ khi xây dựng, Đền Thác Cái đã nhiều lần bị tàn phá do giặc ngoại xâm (Quân Thanh thế kỷ thứ XVIII, Quân Cờ đen thế kỷ thứ XIX...). Đến đầu thế kỷ XX, nhân dân đã khôi phục đền như cũ. Năm 2003, Đền được chuyển lên vị trí cao đẹp hơn như hiện nay và vẫn giữ nguyên hướng và kiểu kiến trúc cổ.

Cảm ứng, ở đây muốn nói sự tác động linh thiêng của Thánh Mẫu nơi con thác được xem là kỳ bí linh thiêng. Cho nên sự sùng tín và thờ vọng có thể hình thành sớm hơn sử sách sau này đã ghi. Theo Thần phả đền Bắc Mục cho biết: Đền Thác Cái còn có tên là đền Ghềnh, đền Ghềnh Mẫu từng bị giặc phương Bắc phá hủy hai lần (quân Thanh thế kỷ XVIII, quân Cờ Đen cuối thế kỷ XIX), sau lại được nhân dân khôi phục.



< Do nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân, Đền còn được thờ thêm Bà Chúa thượng ngàn.


Về kiến trúc cảnh quan, trước 1978 đền Thác Cái có một chính miếu, trong điện có ban thờ Mẫu, một tấm bia bằng gỗ lim, hai bên có câu đối. Người trông coi hương hỏa là ông Từ Dê. Mặt tường ngoài đền có hình hổ phù, ngoài sân có các cây hương (tiểu am) nơi thắp hương bái vọng. Phía tường bao điện thờ có khắc vẽ hình thuyền rồng, cờ xí triều Trần và binh mã, lối vào đền có hình tượng lính canh.

Năm 1980, Bảo tàng tỉnh có nhận được tập tài liệu (dã sử) bằng chữ Hán, trong bài vị có ghi: Đền Thác Cái thờ vị tướng tên là Phạm Dụ đời Trần, nhưng trong văn bia cùng các tài liệu lịch sử và nhân dân địa phương không nhắc tới (đây là vấn đề cần phải khảo sát thêm?). Phía bờ sông trước đền có một cây cổ thụ, còn lại cây cối quanh đền vừa và nhỏ. Sau đền, trong núi có một khe nước nhỏ chảy xuống sông Lô.



< Ngày 30-1-2008, Đền Thác Cái được UBND tỉnh Tuyên Quang công nhận là “Di tích kiến trúc nghệ thuật”.


Cảnh quan hoang vắng không có nhà dân. Nhưng đây là nơi có phong cảnh đẹp tự nhiên, từ trên cao trông xuống thác có nhiều tảng đá gập ghềnh. Về mùa lũ con thác có tiếng réo ghê rợn dễ gợi ra những ký ức dân gian về xứ sở của thủy thần. Xung quanh con thác này đã để lại nhiều truyền thuyết lạ trong dân gian.
Về phương thức thờ cúng, từ xưa có hai lối tế lễ: Lễ thác và Lễ bộ hành.

Lễ thác: Những chủ bè và thuyền hàng trước khi trổ thác sắm một lễ xôi thịt (một thủ lợn hoặc một con gà sống thiến với mâm xôi) vào đền dâng lễ thắp hương bái lạy, sau đó mới tiến hành trổ thác.

Lễ bộ hành: Người qua đường, đến đỉnh dốc vào đền, tuỳ tâm hành lễ (hoa quả, bánh kẹo, tiền) thắp hương bái lạy xin thượng lộ bình an. Cách tế lễ đều do ông từ đền hướng dẫn hoặc tế giúp. Đại ý bài vị  cúng: Người hành lễ xin bái vọng thần linh được phép qua xứ thác thiêng, lòng thành cầu nguyện được khỏe mạnh bình an, may mắn và được Thần phù trợ. Mỗi người tùy theo chức nghiệp và hoàn cảnh lại có lời thỉnh cầu riêng.

Năm 1978, thực hiện chủ trương bài trừ mê tín dị đoan, Uỷ ban nhân dân xã sở tại đã tổ chức phá hủy đền Thác Cái. Nhưng người qua đường vẫn chọn nơi đây là điểm dừng chân nghỉ ngơi ngắm cảnh và tự làm lễ thờ cúng như xưa. Năm 1985-1986, Bảo tàng tỉnh Hà Tuyên (nay là Tuyên Quang) đã bước đầu nghiên cứu về đền Thác Cái, nhưng còn thiếu tư liệu và do hoàn cảnh chiến tranh biên giới nên chỉ có một số kết luận ban đầu: Thác Cái là đền cầu may.


< Ngay những ngày đầu xuân, Đền đã thu hút nhiều du khách thập phương đến vãn cảnh, thờ cúng cũng như cầu phúc, cầu tài, cầu lộc...

Gần đây, nhiều người dân đã tự góp vốn xây dựng đền Thác Cái quy mô hơn trước, khách thập phương về tế lễ ngày càng đông. Nhưng phương thức tế lễ không hoàn toàn như trước. Thực tế nơi đây cũng gây quan ngại cho các nhà quản lý văn hóa và an ninh ở địa phương. Qua tìm hiểu dư luận người đi lễ được biết, họ đến đền Thác Cái để cầu cúng Thần Mẫu, Bà chúa Thượng ngàn, hay Thần tài, cầu tự… Mục đích là cầu may giải hạn.

Hằng tháng, ngoài việc tế lễ của khách qua đường, nhân dân đến lễ đông nhất là ngày rằm và mùng một âm lịch. Còn lịch Lễ thác xưa theo bài vị chữ Hán trong thần tích lại ghi: Hành niên thất nguyệt thập tứ nhật hành lễ (hàng năm làm lễ vào ngày 14-7). Thời điểm lễ cũng trùng với những đỉnh lũ hàng năm.

Như vậy có thể thấy, đền Thác Cái được hình thành từ tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ một hiện tượng trở ngại của thiên nhiên đối với con người từ xa xưa hòa trộn với truyền thuyết và tục thờ Mẫu của người Việt cổ, gắn với quan niệm vạn vật hữu linh, tạo nên biểu tượng Thần linh trong tiềm thức nhân dân suốt dọc thời gian lịch sử.


< Trong tương lai, Đền Thác Cái sẽ là điểm tham quan du lịch hấp dẫn.

Hàng nghìn năm qua sông Lô đã bao nỗi đầy vơi, nhưng con thác linh thiêng vẫn còn đó. Ai đã một lần đi qua Hý Tượng Cảng và Tẩu Mã Cảng chắc không thể phai mờ trong tâm trí về một danh lam kỳ thú phía bắc tỉnh Tuyên Quang.

Thác Cái sẽ là điểm tham quan du lịch đầy hấp dẫn mang lại nguồn lợi về kinh tế, văn hóa... khi ta có cái nhìn mới về môi trường sinh thái, nhân văn trên mảnh đất này. Là một di tích văn hóa tín ngưỡng – đền Thác Cái, thác Cái cần được đặt dưới sự quản lý của nhà nước để trở thành một điểm hẹn hấp dẫn trong tương lai.

Theo PGS. TS. Trần Mạnh Tiến (báo Tuyên Quang), ảnh Phan Thu - Hồng Vân (báo Hải Quan)
Du lịch, GO!