THỜI TRANG

CHIA SẺ

KHÁM PHÁ

SỨC KHỎE

GÓC TRÁI TIM

XÃ HỘI

NHỊP SỐNG TRẺ

BÀI VIẾT MỚI

12 CHÒM SAO

TÔI NHỚ

TÔI YÊU

TÔI TÂM SỰ

TÔI HẠNH PHÚC

BÀI MỚI NHẤT

TIN ẢNH

TIN SHOWBIZ

LÀM ĐẸP

Hiển thị các bài đăng có nhãn Huế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Huế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2016

Cầu Ngói Thanh Toàn (Huế)

Tạm xa thành phố Huế đang tưng bừng với nhiều chương trình nghệ thuật, du khách có thể đến với lễ hội "Chợ quê ngày hội" (khai mạc ngày 13/4) ở cầu ngói Thanh Toàn (làng Thanh Thủy Chánh, xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy) để dạo một vòng phiên chợ quê mộc mạc và ngắm nghía vẻ đẹp của vùng nông thôn ngoại ô thanh bình, yên ả.


Quang cảnh chợ quê ngày hội bên dòng sông Như Ý.
Ngay trên đường đi, du khách đã có thể cảm nhận được cảnh nông thôn dân dã, gần gũi. Qua khỏi địa phận Huế, đi vào con đường làng đẹp như tranh vẽ, hai bên đường là những ruộng lúa, rặng tre nối tiếp nhau, với con đò nhỏ trên dòng kênh tĩnh lặng, đàn vịt bơi chậm rãi dưới ao, dừng xe đón ngọn gió quê mát rượi hòa lẫn mùi thơm dịu của bông lúa trổ đòng, du khách như tan cả những mệt mỏi vì không khí ồn ào, náo nhiệt của phố phường đông đúc.

Con đường làng thơm nồng hương lúa trổ đòng.

Chiếc đò nhỏ.

Đàn vịt lội trong ao.
Đến chợ, khách tham quan sẽ được thưởng thức những hoạt động mua bán đậm nét truyền thống của vùng nông thôn: người dân thôn quê đem đến đây mớ tôm, mớ tép, buồng cau, nải chuối, mớ rau từ vườn nhà, con gà, con vịt mới nuôi, mới ấp, con heo mới xuất chuồng... Kia là hàng rau, hàng quả của các mệ, các o, phía bên này những con tôm, con cá quẫy đuôi, bật nhảy tanh tách. Xa xa, mùi thơm từ các món ăn dân dã gắn liền với nhà nông khiến du khách chẳng thể đặng đừng.


Một góc chợ.

Gánh hàng rong.

Những vật dụng thôn quê: đôi quang gánh, thúng, mủng, rế,...

Nông sản địa phương.
Cứ thế, phiên chợ quê níu chân du khách ghé mua sản vật địa phương như nón lá Thủy Thanh, chuối ba lùn Thủy Vân, trái cây, nếp thơm,... ở các gian trưng bày; đến thưởng thức những món ăn dân giã như cơm hến, bún trộn, bánh canh cá lóc Thủy Dương, khoai luộc Thủy Thanh; làm quà cho trẻ nhỏ cái bánh ít, bánh ú, bánh gai, bánh nậm, bánh lọc, hay giải tỏa cơn nóng bức của mùa hè bằng bát chè bột lọc, chè khoai tía, chè bắp, chè bông cau, chè đậu, cốc rượu nếp, bát chè xanh,...

Tò he...

... thu hút du khách.

Khách nghỉ chân thưởng thức chén đậu hũ...

... uống bát chè xanh.

... xem gói bánh chưng, bánh tét.
Điểm thu hút người dự hội nhất dĩ nhiên là chiếc cầu mái ngói Thanh Toàn. Ghé qua cầu, dừng chân nghỉ trong làn gió mát, ngắm nhìn kiến trúc cổ độc đáo, lắng nghe những âm thanh lao xao của phiên chợ, tất cả tạo cho du khách một cảm xúc khó tả.

Cầu ngói Thanh Toàn.
Sau khi dạo chợ và nghỉ ngơi thật thoải mái, khách tham quan có thể ghé gian trưng bày nông cụ với nhiều hiện vật tái hiện không gian làng quê đặc trưng và những hình ảnh ước lệ nếp sinh hoạt của người nông dân Việt Nam. Tại đây, du khách có thể thử một lần làm nông dân đạp nước, tát nước trên đồng, xay lúa, giã gạo, sàng, sẩy, câu cá, cất vó,... để cảm thông với những nhọc nhằn vất vả của nhà nông.

Du khách "nhí" nước ngoài thử làm nông dân Việt Nam.

Hội bài chòi.

Một gian hàng mời du khách giải thế trận cờ tướng.

Ném bi.
Ngay bên cạnh khu trưng bày nông ngư cụ là Hội thi làm nón bài thơ. Trước sự quan sát của đông đảo người xem, các o, các chị tham gia cuộc thi vẻ như lúng túng, ngượng ngùng, nhưng khi hiệu lệnh thi bắt đầu, thì các đôi tay đã thoăn thoắt, nhịp nhàng những thao tác xây nón, chằm nón gọn ghẽ, đều săm sắp. Với nhiều du khách, đặc biệt là khách nước ngoài, được mục sở thị những công đoạn làm nên chiếc nón lá mỏng manh mà hữu dụng thật sự khiến họ thích thú.

Hội thi làm nón bài thơ.

Để làm được 1 chiếc nón bài thơ phải mất rất nhiều công đoạn. Bắt 16 cái vành vào khung...

Kết lá.

Xây nón.

Đặt hình câu thơ vào giữa chiếc nón.

Chiếc nón đã chằm xong đang thực hiện những công đoạn cuối cùng, đột đầu...

nức vành,...

... và bỏ xoài.
Và một phên chợ quê ngày hội cuốn hút, hấp dẫn bởi những chương tình gắn liền với các hoạt động đời thường như thế, khiến du khách vừa rời đi đã lại hẹn hò:
"Ai về cầu ngói Thanh Toàn
Cho em về với một đoàn cho vui"
Nguồn: Hue.vnn

Thứ Tư, 22 tháng 7, 2015

Phủ Đệ - Nơi lưu giữ Huế xưa


Từ những ngôi phủ đệ, cuộc sống quyền quý của các thành viên hoàng gia trong chốn cung cấm theo đó mà thâm nhập vào đời sống dân gian. Cho dù ở nơi ở mới, cánh cửa phủ đệ vẫn lặng lẽ đóng kín nhưng khoảng cách giữa thường dân với các bậc quyền quý trong cung đã phần nào được khỏa lấp và văn hóa cung đình cũng theo đó mà lan tỏa khắp chốn kinh kỳ.

Du khách đến Huế, dường như ai cũng muốn tham quan những cung điện vàng son một thuở bên trong những vòng tường thành rêu phong cổ kính, hay viếng thăm những lăng tẩm uy nghi của các vị vua triều Nguyễn đang giấu mình dưới bóng cổ tùng nơi vùng đồi núi chập chùng ở phía tây Kinh Thành Huế.



Ít ai chú ý đến những phủ đệ của các ông hoàng bà chúa nằm xen giữa phố thị đông đúc hoặc lẩn khuất nơi thôn dã ở vùng ngoại ô, với những bức tường phủ rêu và những cánh cửa đóng kín quanh năm, như muốn che đậy một thế giới riêng tư của lớp người đã đem đến cho Huế một tính cách không giống ai: tính cách mệ.

Kỳ thực, những phủ đệ ấy từng vang bóng một thời và nay là nơi lưu giữ những ánh hào quang quá vãng của Huế xưa, mà nếu thiếu vắng, thì bức chân dung xứ Huế sẽ trở nên nhạt nhòa vì thiếu những gam màu sâu lắng, cô liêu.



Phủ đệ, chốn ấy là gì?

Phủ đệ, tên gọi chốn ấy, là nơi ở của các vương tôn, hoàng tử và công chúa thời Nguyễn. Phủ là nơi ở của các hoàng thân, hoàng tử sau khi lập gia đình, từ đó mới phái sinh danh xưng phủ thiếp để gọi người vợ của hoàng tử, tức là con dâu của nhà vua. Tùy theo tôn tước của chủ nhân được triều đình tập phong là tước công hay tước vương mà phủ ấy được gọi là công phủ hay vương phủ. Đệ là lối gọi tắt của từ đệ trạch, là nơi ở của công chúa sau khi hạ giá, tức là công chúa đã được gả chồng.

Về sau, người ta thường dùng chữ phủ đệ để gọi chung cho nơi ở của các ông hoàng, bà chúa đã thành thân. Khi những ông hoàng, bà chúa ấy trở thành người thiên cổ, tòa chính đường trong phủ, nơi trú tất của các ông hoàng, bà chúa lúc sinh thời, trở thành nơi thờ tự vong linh của chính họ.



Ấy cũng là lúc con cháu của họ thay biển ngạch đề danh trước cổng, đổi chữ phủ (hay chữ đệ) thành chữ từ hay từ đường, mà dân gian vẫn quen gọi là phủ từ, hàm ý đó là nơi thờ tự vị chủ nhân của phủ đệ xưa, nay đã quá cố.

Mỗi phủ đệ đều có tên riêng, dựa theo tôn tước của chủ nhân. Tên của các phủ thường là tên huyện mà vị thân công, hoàng tử ấy được triều đình tập phong như: Tùng Thiện vương phủ, Tuy Lý vương phủ, Thọ Xuân vương phủ, Định Viễn quận vương phủ, Phước Long quận công phủ, Thường Tín quận công phủ… Tên của đệ trạch thường gọi theo danh hiệu của vị công chúa chủ nhân đệ trạch ấy như: An Thường công chúa đệ, Ngọc Sơn công chúa đệ…



Đầu triều Nguyễn, các phủ đệ đều tọa lạc bên trong Kinh Thành Huế, theo nguyên tắc “nam tả, nữ hữu”, nghĩa là phủ của các thân công, hoàng tử thì ở về phía trái, còn đệ trạch của các công nữ thì ở về phía phải của Kinh Thành. Năm 1846, Tùng Thiện công Miên Thẩm, hoàng tử thứ 10 của vua Thiệu Trị rời Kinh Thành tìm về bên dòng sông Lợi Nông, mua một khoảnh đất rộng, lập nên Tiêu viên, sau đổi là Ký Thưởng viên với 16 sở đường lâu các, rồi rước mẹ là bà Thục Tân từ Tử Cấm Thành về ở với ông để tiện bề phụng dưỡng. Đó là vương phủ đầu tiên nằm ngoài Kinh Thành Huế, mở đầu cho lịch sử hình thành phủ đệ của các ông hoàng bà chúa ở kinh đô.



Nối gót Tùng Thiện công Miên Thẩm, nhiều hoàng thân, quốc thích cũng tìm đến những vùng đất bên ngoài Kinh Thành để dựng phủ. Cuộc sống quyền quý của các thành viên hoàng gia ở trong cung cấm, theo đó mà thâm nhập vào đời sống dân gian, cho dù ở nơi ở mới, cánh cửa phủ đệ vẫn lặng lẽ đóng kín nhưng khoảng cách giữa thường dân với các bậc quyền quý trong cung đã phần nào được khỏa lấp và văn hóa cung đình cũng theo đó mà lan tỏa khắp chốn kinh kỳ. Những vùng đất trù phú, thanh bình dọc hai bờ sông Lợi Nông, từ Phủ Cam xuôi về An Cựu, ở làng Kim Long, thôn Vỹ Dạ, xóm Gia Hội hay vùng Chợ Cống... là những nơi được nhiều ông hoàng, bà chúa lựa chọn làm nơi dựng phủ, lập đệ. Theo thời gian, những vùng đất này đã trở thành nơi bảo lưu “dấu tích lưu trú” của các ông hoàng, bà chúa thời Nguyễn.



Phủ đệ là cơ nghiệp riêng do các ông hoàng, bà chúa tự lập nên bằng tiền lương và các khoản bổng lộc mà triều đình ban tặng cho họ. Tùy theo chức tước và bổng lộc mà chủ nhân thụ đắc, phủ đệ sẽ to hay nhỏ, đường bệ hay khiêm tốn. Tuy nhiên, do triều Nguyễn là vương triều “nghèo khó” bậc nhất châu Á lúc bấy giờ, nên bổng lộc mà các thân công, hoàng tử, công chúa thụ hưởng cũng chẳng nhiều nhặn gì. Vì thế, nên khi phủ đệ hư hỏng, chủ nhân không có tiền sửa chữa, phải vay mượn tiền bạc của triều đình. Theo sách Đại Nam thực lục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, thì vào tháng 2 năm Ất Hợi (1875), Vinh Lộc quận công Miên Tri vay nợ ở triều đình 1.000 quan tiền để sửa chữa phủ đệ bị hư hỏng.
Theo quy định, mỗi hoàng thân, hoàng tử, công chúa, khi sửa chữa phủ đệ sẽ được vay 1.000 quan và mỗi năm phải trả nợ 300 quan tiền cho triều đình. Miên Tri mới vay tiền được một tháng đã tiêu hết vào việc sửa nhà, nên phải xin triều đình cho lĩnh lương trước 2 - 3 năm để trả nợ. Vị hoàng thân đứng đầu Tôn Nhân phủ là Miên Định biết được việc ấy bèn hặc tâu với vua.



Phủ đệ - nơi hình thành, bảo lưu và lan tỏa tính cách Huế

Thật ra, hoàng cung và lăng tẩm của các bậc đế vương không làm nên tính cách Huế. Đó là nơi vương giả, với những quy định nghiêm nhặt và những điều húy kỵ khiến cho chốn ấy trở nên vời xa trong mắt dân chúng. Phủ đệ mới là nơi trung chuyển lối sống và văn hóa cung đình đến với dân gian xứ Huế, từ đó, góp phần hình thành nên tính cách Huế, như nhận xét của nhà nghiên cứu Trịnh Bách: “Chính các phủ đệ của ông hoàng bà chúa đã tạo ra cái phong cách Huế cho dân đế đô, vì chúng được xây ngoài phạm vi hoàng thành, xen lẫn với phố xá làng mạc. Cư dân chung quanh ngày xưa rất hãnh diện với các vương phủ trong bản hạt của họ. Họ cung cấp mọi dịch vụ cần thiết cho phủ, và cùng lúc đó họ học hỏi phong cách sống cung đình từ người trong phủ”.



Một trong những tính cách đặc trưng của văn hóa ứng xử Huế là tính cách mệ. Tính cách này được hình thành và nuôi dưỡng từ những phủ đệ kín cổng cao tường kia. Nguyên nghĩa, mệ là từ người Huế dùng để gọi phụ nữ ngoài 60 tuổi, cũng là danh xưng mà con cháu gọi người bà của mình, là mệ nội, mệ ngoại hay mệ dì…

Song chữ mệ trong tiếng Huế còn dùng để gọi những ông hoàng, bà chúa thuộc dòng dõi Nguyễn Phước tộc, dù họ là nam hay nữ. Những người quyền quý này xưng mệ khi chuyện trò, trao đổi với người ngoài như một cách tỏ bày nguồn gốc cao quý của mình: ta đây thuộc dòng dõi quý tộc, có mối liên hệ máu mủ với đức kim thượng trong Tử Cấm Thành kia; xưng mệ là để tỏ sự phân biệt với các hạng dân khác ở đế đô.



Mệ có đời sống riêng ẩn giấu trong vòng tường của phủ đệ và mỗi khi ra khỏi lớp tường rêu phong ấy, mệ có cách hành xử riêng, vừa cao ngạo, vừa khoan dung, sẵn lòng ban ơn cho kẻ dưới, cho dẫu có lúc kẻ dưới ấy là người giàu có của cải, tiền bạc hơn so với mệ.

Khi nhà Nguyễn trở thành quá vãng, mệ không còn nguồn chu cấp, trở nên nghèo khó, nhưng ánh hào quang của địa vị xuất thân ở trong mệ vẫn còn le lói chứ không bao giờ tắt hẳn. Mệ vẫn sống lối sống phong lưu như trước, vẫn dùng lối xưng hô như cũ, ra đường vẫn quần là áo lượt, vẫn áo the quần gấm, vẫn ban phát ân sủng khi cần thiết.



Vòng tường cao cao và cánh cửa đóng kín của phủ đệ đã che giấu sự khốn khó của mệ trước những con mắt soi mói của các hạng dân thường. Chỉ khi đêm về, khi nhìn thấy tòa chính đường trong phủ đã xập xệ, giột nát, và những món đồ cổ mà “ngài ngự” ban cho lúc trước, nay đã được đổi thành những khoản tiền nhỏ để bù đắp cho những chi phí thường nhật của mệ và con cháu mệ, mệ mới cất tiếng thở dài. Nhưng rồi khi mặt trời mọc, mệ lại đường hoàng bước ra khỏi cổng phủ, gọi chiếc xích lô chở đi ăn sáng. Mệ vẫn là mệ và phủ đệ vẫn biết cách cất giấu những khốn khó của mệ, kể từ lúc nhà Nguyễn thoái trào cho đến tận hôm nay.

Lần theo dấu vết phủ đệ



Thuở hoàng kim, xứ Huế có khoảng 150 phủ đệ ở khắp trong ngoài Kinh Thành. Ký Thưởng viên của Tùng Thiện công Miên Thẩm - hoàng tử thứ 10 của vua Thiệu Trị - là vương phủ đầu tiên nằm ngoài Kinh Thành Huế, mở đầu cho lịch sử hình thành phủ đệ của các ông hoàng bà chúa ở kinh đô.
Nhà Nguyễn cáo chung, vật đổi sao đời, phủ đệ cũng theo đó mà suy tàn. Đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, Huế còn lưu giữ khoảng 85 phủ đệ, tập trung ở các khu vực: phía đông bắc Thành Nội, An Cựu, Kim Long, Vỹ Dạ và Gia Hội. Còn bây giờ, cho dù kín cổng cao tường thì khuôn viên phủ đệ ngày càng nhỏ hẹp dần do quá trình đô thị hóa, hoặc bị chia năm xẻ bảy bởi nạn nhân mãn. Thế giới trầm lắng, bí ẩn, luôn ẩn khuất đằng sau các cánh cửa gỗ hàng trăm năm tuổi của phủ đệ đang dần mở ra trong lòng xứ Huế đương đại.

Nhưng như thế không có nghĩa là những phủ đệ của Huế xưa đã mất dạng hoặc đang phơi ra dưới ánh mắt soi mói của người đời. Phủ đệ vẫn là nơi chốn mà mỗi lần đến Huế, du khách nên tự mình tìm đến, bước qua bậc tam quan có cánh cửa gỗ dường như luôn đóng kín, để khám phá những gì ẩn giấu bên trong. Du khách có thể làm một chuyến ngao du tìm về những phủ đệ còn sót lại ở Kim Long, Gia Hội, Vỹ Dạ, An Cựu… như tìm về những hoài niệm của Huế xưa.



Ngược lên Kim Long, du khách viếng thăm phủ đệ của các hoàng thân, công chúa triều Nguyễn và các phủ từ của họ ngoại vua Tự Đức như: Ðức quốc công từ, Diên Phước công chúa từ, Vĩnh quốc công từ, Khoái Châu quận công từ… Xuôi về Gia Hội ghé thăm phủ Thọ Xuân vương, phủ Thoại Thái vương, phủ Hòa Thạnh vương, phủ Lạc Biên… Rồi tranh thủ ghé thăm xóm Ngự Viên ở đường Mạc Đĩnh Chi, nơi còn dấu tích của dăm bảy vương phủ của các hoàng thân thuộc các triều Minh Mạng và Thiệu Trị, ghé đường Nguyễn Chí Thanh thăm phủ thờ công chúa Ngọc Sơn, con vua Đồng Khánh.

Du khách cũng có thể đi dọc đôi bờ sông Lợi Nông, bên bờ đông thì viếng thăm phủ Tùng Thiện vương, từ đường Ngọc Lâm công chúa, phủ Kiên Thái vương, phủ An Hóa công, từ đường Bái Ân công chúa hay cung An Định, vốn là phủ tiềm để của Phụng Hóa công Bửu Đảo, trước ngày ông hoàng này lên ngôi trở thành vua Khải Định; bên bờ tây thì ghé thăm phủ Kiến Hòa, phủ Mỹ Hóa…

Từ An Cựu ghé sang Chợ Cống thăm phủ Hàm Thuận công và từ đường An Thường công chúa, nơi thờ công chúa Nguyễn Phúc Lương Đức, con thứ 4 của vua Minh Mạng. Rồi xuôi về Vỹ Dạ, vốn là nơi có nhiều phủ đệ bậc nhất thuở trước, nay vẫn còn lưu dấu những vương phủ uy nghi mà du khách nên viếng thăm trong hành trình theo dấu vương phủ của Huế xưa như phủ Tuy Lý vương, phủ Diên Khánh vương, phủ Phong Quốc công, phủ Ðịnh Viễn quận vương…

Lúc ấy, du khách mới thấy Huế vẫn còn biết bao kỳ bí cần phải khám phá, cả những kỳ bí giấu sau cánh cửa phủ đệ lẫn những kỳ bí ẩn dưới tính cách lịch lãm và đài đệ của dân mệ.

Du lịch, GO!

Biển Vinh Thanh (Huế)


Không quá nổi tiếng như biển Lăng Cô hay biển Cảnh Dương. Không có được vị trí thuận lợi gần Tp. Huế như biển Thuận An nhưng biển Vinh Thanh lại có nét lôi cuốn riêng mà phải một lần đến để hòa mình với tiếng sóng vỗ rầm rì, cảm nhận mùi mặn tươi của biển cả trên các ghe thuyền đầy cá mực trở về... du khách mới có thể cảm nhận đầy đủ về một vùng biển đang là sự lựa chọn của nhiều du khách trong những ngày nghỉ cuối tuần.

Cách thành phố Huế 30 km về phía đông nam, nằm trên trục đường thuận tiện, chỉ cần chưa đầy 30 phút đi ô tô là đến với biển Vinh Thanh. 
Sự thuận tiện trong giao thông cộng với bãi biển sạch, hải sản tươi và rẻ nên Vinh Thanh đang là sự lựa chọn của không ít người khi muốn du lịch biển mùa hè. Trong những ngày hè có hàng ngàn lượt du khách đến đây mà cao điểm như thứ 7, chủ nhật, tết đoan ngọ hay Festival Huế vừa qua có ngày lượng khách lên đến 5, 6 ngàn người.



Như hầu hết những bãi biển khác ở miền Trung nắng, gió, bãi biển Vinh Thanh luôn chan hòa ánh nắng với bầu trời xanh rám mây trắng, sóng vỗ rì rào, bọt tung trắng xóa. 

Bãi cát trắng trải dài, nước biển xanh ngắt, cảnh hoàng hôn lãng mạn, không gian du dương tĩnh lặng. Có lẽ do biển Vinh Thanh chưa được sự chú ý của các đơn vị khai thác du lịch nên vẫn còn giữ nguyên nét hoang sơ, rất thích hợp cho những ai yêu thích sự yên tĩnh, và thiên nhiên khoáng đạt …


Hình ảnh đặc trưng của Vinh Thanh là những con thuyền đánh cá nằm chờ trên bãi cát trước chuyến ra khơi, gương mặt người dân quê với làn da đen sạm nắng, giọng nói rặt Huế, tính tình hiền lành, chân chất và rất hiếu khách. Và điều luôn thú vị với mọi du khách là xuống biển tự tay chọn cho mình những chú mực tươi rói, những chú ghẹ càng xanh óng ánh từ chiếc thuyền câu vừa cập bến thuê các nhà hàng hay nhà dân chế biến thành những món ăn tươi.


Nếu là một người không thích sự náo nhiệt tại các bãi biển đông người, không muốn đi quá xa và yêu thích nét hoang sơ thì Vinh Thanh sẽ là lựa chọn của nhiều du khách. Bởi ở đây không chỉ có tắm biểm mà du khách cũng sẽ cảm thấy thú vị khi cùng hòa vào cuộc sống của những người dân nơi đây, được đón những chuyến tàu từ khơi xa trở về. Và với những người đam mê nhiếp ảnh, thì Vinh Thanh là một địa điểm không thể bỏ qua. Điểm còn lại mà biển Vinh Thanh chưa có đó chính là dịch vụ lưu trú cho những du khách muốn nghỉ lại đây. Điều này cũng đang được chính quyền địa phương lưu tâm kêu gọi các nhà đầu tư. Hy vọng rằng một ngày không xa trở lại Vinh Thanh sẽ còn nhiều điều thay đổi để bãi biểm này càng thu hút nhiều hơn không chỉ khách ở địa phương mà cả khách du lịch trong và ngoài nước đến nghỉ ngơi, tắm biển trong mùa hè.

Trích website Huế

Núi Kim Phụng (Huế)


Núi Kim Phụng ở địa phận làng Hải Cát, xã Hương Thọ, huyện Hương Trà. Núi này còn có tên là núi Thương hoặc Thiên Dữu, dân gian gọi là hòn Đốn hay hòn Đụn. Núi Kim Phụng có chiều cao khoảng 427 mét và là ngọn núi cao nhất Thừa Thiên - Huế.

Trên núi có giếng nước rất trong nhưng mùa khô sẽ cạn. Đỉnh núi có tượng Phật nhỏ và tượng thần Núi Thương với những bát hương. Trước mặt tượng Phật về bên phải, có một nơi khá im mát có thể làm nơi cắm trại cho nhiều người - Không khí trong lành, mát rượi. Từ đỉnh cao này sẽ nhìn thấy bao quát thành phố Huế kề cận bên dòng sông Hương quanh co.



< Núi Kim Phụng nhìn từ Bàu Hồ.

Trên đỉnh núi có thể nhìn thấy cả một vùng rộng lớn: Nếu nhìn theo hướng Đông - Nam sẽ thấy hai trụ biểu của lăng Gia Long, nhìn về hướng Đông thấy lăng Minh Mạng và cầu Tuần, tượng Bồ Tát Quán Âm trên núi Tứ Tượng. Phía bên phải cầu Tuần là ngã ba Bằng Lãng, nơi hai dòng Tả Trạch và Hữu Trạch hợp lưu thành sông Hương.



< Trên đỉnh núi có thể nhìn thấy cả một vùng rộng lớn...

Dòng sông Hương là một giải xanh xanh nằm ngang và uốn khúc ở góc đông bắc của bức tranh này tại vị trí làng Lương Quán và Nguyệt Biều rồi chảy xuống cầu Dã Viên. Giữa chừng trước khi đến Lương Quán, sông Hương chảy qua điện Hòn Chén mà từ đây có thể thấy hòn núi Ngọc Trản. Ở đây còn thấy rõ tháp ở tu viện Thiên An, núi Ngự Bình, và dĩ nhiên là thành phố lô nhô bóng nhà. Xa tít tắp màu trắng mờ mờ là cồn cát bên kia phá Tam Giang.



< Để lên đỉnh núi cũng không quá khó, cứ lên theo lối mòn.

Nhìn về hướng Tây sẽ thấy khu vực Bình Điền, bên trái là đồi  Birmingham. Có nhiều con đường được trổ ra từ thời chiến tranh, sau này người ta cũng mở đường để khai thác gỗ.



< Ánh trăng trên đỉnh núi, phía dưới là ánh đèn từ thành phố Huế.

Các rừng trồng dần dần thay thế rừng tự nhiên khiến gỗ quí không còn. Bây giờ chỉ có bạch đàn, keo tai tượng, tràm hoa vàng và thông. Dân đi củi, đốt than nay ít hơn vì rừng được phá bằng các phương tiện cơ giới nhanh hơn. Cả ngọn núi Kim Phụng không còn cây nào cao hay có tán lá rộng. Chỉ còn tầng cây bụi thấp như sim, lau lách...



< Đón bình minh trên núi Kim Phụng.

Chân núi có dòng suối với nước trong leo lẻo, mát lạnh... kề cận vài lán nhỏ của những người đi lấy nhựa thông. Đây cũng là chỗ dừng chân tạm cho những người xuống núi sau buổi cắm trại.



< Tượng Phật nhỏ trên núi.

Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng thì núi Kim Phụng là "chủ sơn" của xứ Huế, làm hậu cảnh và phá Tam Giang chính là tiền cảnh. Đây đồng thời còn là đường phân thủy của hai nguồn tả hữu trạch hợp thành dòng Hương Giang.

Năm Minh Mạng thứ 17 (1836): lúc đúc cửu đỉnh, nhà vua đã cho khắc hình tượng núi vào Chương đỉnh.
Theo sách Tây sơn thực lục, núi Kim Phụng là nơi an táng Chánh cung hoàng hậu họ Phạm của Hoàng đế Quang Trung (1791).

Trong giai đoạn kháng chiến 1954 - 1975, Kim Phụng là một trong những căn cứ quan trọng nhất của Thành ủy Huế. Ðây cũng là nơi đóng trạm tiền tiêu của Bộ trong chiến dịch tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968).

Trong kháng chiến chống Mỹ, đây là một trong những nơi Thành uỷ trú đóng và là trạm tiền tiêu của Bộ trong chiến dịch tổng tấn công và tổng nổi dậy Tết Mậu Thân (1968).

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ nhiểu nguồn, ảnh từ Art2all.net + internet