THỜI TRANG

CHIA SẺ

KHÁM PHÁ

SỨC KHỎE

GÓC TRÁI TIM

XÃ HỘI

NHỊP SỐNG TRẺ

BÀI VIẾT MỚI

12 CHÒM SAO

TÔI NHỚ

TÔI YÊU

TÔI TÂM SỰ

TÔI HẠNH PHÚC

BÀI MỚI NHẤT

TIN ẢNH

TIN SHOWBIZ

LÀM ĐẸP

Hiển thị các bài đăng có nhãn Phú Yên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phú Yên. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2015

Đến Thác Cái (Phú Yên)


Trên tuyến quốc lộ số 2 Tuyên Quang - Hà Giang có một ngôi đền mang tên Thác Cái. Đền Thác Cái nằm tại đỉnh dốc ở km64 thuộc xã Yên Phú, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.


< Đây là nơi khí thiêng sơn thủy hội tụ, bốn mùa thời tiết trong lành mát mẻ, tĩnh mịch.

Mặt trước ngôi đền hướng về phía sông Lô, nơi có một khu đá thác lớn hiểm trở chắn ngang sông, quanh năm nước réo, thuyền bè đi lại rất khó khăn.
Do sự đổi thay của thời gian, ngôi đền nhiều lần thành phế tích, rồi lại phục hồi. Gần đây, đền Thác Cái được một số người tái lập làm nơi thờ phụng nhưng ít ai biết tường tận về lịch sử ngôi đền này.



< Đền nằm ở chân một ngọn núi lớn.


Việc tìm hiểu nguồn gốc đền Thác Cái, chúng tôi dựa vào các tài liệu lịch sử, các sách địa chí, các ghi chép về danh lam thắng cảnh của các nhà Nho, ghi chép của các thầy địa lý, những người làm nghề sông nước lâu đời, các cụ cao niên ở địa phương và kết hợp khảo sát thực tế về các di vật cũ của đền cùng các sinh hoạt thờ cúng trong nhân dân vv… Tất cả cho thấy một bức tranh khái lược về lịch sử nơi thờ vọng được hình thành từ nhu cầu tín ngưỡng và tục thờ Thần Mẫu gắn với một địa hình hiểm trở từ ngàn xưa từng gây nhiều tai họa cho con người mỗi lần vượt thác.



< Cảnh sắc núi non đẹp đẽ và linh thiêng.


Trước thời Pháp thuộc, mạch giao thông Tuyên Quang- Hà Giang chủ yếu bằng đường thủy và men theo sông Lô là con đường bộ nhỏ heo hút, nhân dân đã lập một am nhỏ làm nơi nghỉ chân và bái vọng. Từ thế kỷ XV, trong sách Dư địa chí (Nguyễn Trãi), Thác Cái có tên là Tiên thiềm mẫu tử (Cóc mẹ cóc con), ám chỉ đá thác mấp mô hiểm trở liên kết nhau. Thác nước chảy mạnh tạo âm thanh lớn có tên là Hý tượng cảng (Thác voi rống), Tẩu mã cảng (Thác ngựa phi) để diễn tả sự dữ dội của nó. Đến thế kỷ XVIII, trong một lần hành binh qua đây, chúa Trịnh Sâm đã ra lệnh phá đá thác nhưng thất bại, chúa phải sai giết bò tế đá thác để cầu an…



< Mặt trước ngôi đền hướng về phía sông Lô...


Tấm văn bia cổ trong điện thờ cũ có dòng chữ Hán: “Đại Than thủy khẩu, cảm ứng Long Mẫu nương nương thần vị”. Đại ý là: Ghềnh đá lớn cửa sông cảm ứng các vị Thần Mẫu”. Trước năm 1978, khi ngôi đền còn nguyên vẹn, trên ban thờ chính điện có một bức tượng Long Mẫu và hai bên, mỗi bên có một tượng Nương Thần bằng gỗ. Theo tục tế lễ của người dân ven sông, Long Mẫu được xem là vị thần tối thượng, trong lời khấn Nôm được gọi là Bà chúa Thượng ngàn (hay Chúa Bà).



< ... nơi có một ghềnh đá thác lớn chắn ngang sông, quanh năm nước réo.


Trong bài tế đó có kèm lời phụng hai vị Nương Thần là Ngọc Nương và Phương Nương. Theo truyền thuyết từ thời đại Hùng Vương, đó là Ngọc Lân công chúa và Phương Dung công chúa. Hai vị nương Thần này đã được thờ làm chính Thần ở đền Hạ và đền Thượng (thị xã Tuyên Quang), đã được ghi trong Đại Nam Nhất Thống chí. Như vậy, đền Thác Cái bắt nguồn từ tục thờ Mẫu của nhân dân Lạc Việt có từ xa xưa trong lịch sử.

Về ý nghĩa của địa danh: Đại than thủy khẩu, có nghĩa là Ghềnh đá lớn cửa sông, đá thác lớn, cách gọi Nôm là: Thác Cái để phân biệt với Thác Con ở khúc sông khác. Cụm từ: Cảm ứng long mẫu nương nương Thần vị, như trên đã nói đều tương ứng với truyền thuyết và phong tục tín ngưỡng vốn có trong nhân dân (Thánh Mẫu cùng hai nương Thần).

< Từ khi xây dựng, Đền Thác Cái đã nhiều lần bị tàn phá do giặc ngoại xâm (Quân Thanh thế kỷ thứ XVIII, Quân Cờ đen thế kỷ thứ XIX...). Đến đầu thế kỷ XX, nhân dân đã khôi phục đền như cũ. Năm 2003, Đền được chuyển lên vị trí cao đẹp hơn như hiện nay và vẫn giữ nguyên hướng và kiểu kiến trúc cổ.

Cảm ứng, ở đây muốn nói sự tác động linh thiêng của Thánh Mẫu nơi con thác được xem là kỳ bí linh thiêng. Cho nên sự sùng tín và thờ vọng có thể hình thành sớm hơn sử sách sau này đã ghi. Theo Thần phả đền Bắc Mục cho biết: Đền Thác Cái còn có tên là đền Ghềnh, đền Ghềnh Mẫu từng bị giặc phương Bắc phá hủy hai lần (quân Thanh thế kỷ XVIII, quân Cờ Đen cuối thế kỷ XIX), sau lại được nhân dân khôi phục.



< Do nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân, Đền còn được thờ thêm Bà Chúa thượng ngàn.


Về kiến trúc cảnh quan, trước 1978 đền Thác Cái có một chính miếu, trong điện có ban thờ Mẫu, một tấm bia bằng gỗ lim, hai bên có câu đối. Người trông coi hương hỏa là ông Từ Dê. Mặt tường ngoài đền có hình hổ phù, ngoài sân có các cây hương (tiểu am) nơi thắp hương bái vọng. Phía tường bao điện thờ có khắc vẽ hình thuyền rồng, cờ xí triều Trần và binh mã, lối vào đền có hình tượng lính canh.

Năm 1980, Bảo tàng tỉnh có nhận được tập tài liệu (dã sử) bằng chữ Hán, trong bài vị có ghi: Đền Thác Cái thờ vị tướng tên là Phạm Dụ đời Trần, nhưng trong văn bia cùng các tài liệu lịch sử và nhân dân địa phương không nhắc tới (đây là vấn đề cần phải khảo sát thêm?). Phía bờ sông trước đền có một cây cổ thụ, còn lại cây cối quanh đền vừa và nhỏ. Sau đền, trong núi có một khe nước nhỏ chảy xuống sông Lô.



< Ngày 30-1-2008, Đền Thác Cái được UBND tỉnh Tuyên Quang công nhận là “Di tích kiến trúc nghệ thuật”.


Cảnh quan hoang vắng không có nhà dân. Nhưng đây là nơi có phong cảnh đẹp tự nhiên, từ trên cao trông xuống thác có nhiều tảng đá gập ghềnh. Về mùa lũ con thác có tiếng réo ghê rợn dễ gợi ra những ký ức dân gian về xứ sở của thủy thần. Xung quanh con thác này đã để lại nhiều truyền thuyết lạ trong dân gian.
Về phương thức thờ cúng, từ xưa có hai lối tế lễ: Lễ thác và Lễ bộ hành.

Lễ thác: Những chủ bè và thuyền hàng trước khi trổ thác sắm một lễ xôi thịt (một thủ lợn hoặc một con gà sống thiến với mâm xôi) vào đền dâng lễ thắp hương bái lạy, sau đó mới tiến hành trổ thác.

Lễ bộ hành: Người qua đường, đến đỉnh dốc vào đền, tuỳ tâm hành lễ (hoa quả, bánh kẹo, tiền) thắp hương bái lạy xin thượng lộ bình an. Cách tế lễ đều do ông từ đền hướng dẫn hoặc tế giúp. Đại ý bài vị  cúng: Người hành lễ xin bái vọng thần linh được phép qua xứ thác thiêng, lòng thành cầu nguyện được khỏe mạnh bình an, may mắn và được Thần phù trợ. Mỗi người tùy theo chức nghiệp và hoàn cảnh lại có lời thỉnh cầu riêng.

Năm 1978, thực hiện chủ trương bài trừ mê tín dị đoan, Uỷ ban nhân dân xã sở tại đã tổ chức phá hủy đền Thác Cái. Nhưng người qua đường vẫn chọn nơi đây là điểm dừng chân nghỉ ngơi ngắm cảnh và tự làm lễ thờ cúng như xưa. Năm 1985-1986, Bảo tàng tỉnh Hà Tuyên (nay là Tuyên Quang) đã bước đầu nghiên cứu về đền Thác Cái, nhưng còn thiếu tư liệu và do hoàn cảnh chiến tranh biên giới nên chỉ có một số kết luận ban đầu: Thác Cái là đền cầu may.


< Ngay những ngày đầu xuân, Đền đã thu hút nhiều du khách thập phương đến vãn cảnh, thờ cúng cũng như cầu phúc, cầu tài, cầu lộc...

Gần đây, nhiều người dân đã tự góp vốn xây dựng đền Thác Cái quy mô hơn trước, khách thập phương về tế lễ ngày càng đông. Nhưng phương thức tế lễ không hoàn toàn như trước. Thực tế nơi đây cũng gây quan ngại cho các nhà quản lý văn hóa và an ninh ở địa phương. Qua tìm hiểu dư luận người đi lễ được biết, họ đến đền Thác Cái để cầu cúng Thần Mẫu, Bà chúa Thượng ngàn, hay Thần tài, cầu tự… Mục đích là cầu may giải hạn.

Hằng tháng, ngoài việc tế lễ của khách qua đường, nhân dân đến lễ đông nhất là ngày rằm và mùng một âm lịch. Còn lịch Lễ thác xưa theo bài vị chữ Hán trong thần tích lại ghi: Hành niên thất nguyệt thập tứ nhật hành lễ (hàng năm làm lễ vào ngày 14-7). Thời điểm lễ cũng trùng với những đỉnh lũ hàng năm.

Như vậy có thể thấy, đền Thác Cái được hình thành từ tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ một hiện tượng trở ngại của thiên nhiên đối với con người từ xa xưa hòa trộn với truyền thuyết và tục thờ Mẫu của người Việt cổ, gắn với quan niệm vạn vật hữu linh, tạo nên biểu tượng Thần linh trong tiềm thức nhân dân suốt dọc thời gian lịch sử.


< Trong tương lai, Đền Thác Cái sẽ là điểm tham quan du lịch hấp dẫn.

Hàng nghìn năm qua sông Lô đã bao nỗi đầy vơi, nhưng con thác linh thiêng vẫn còn đó. Ai đã một lần đi qua Hý Tượng Cảng và Tẩu Mã Cảng chắc không thể phai mờ trong tâm trí về một danh lam kỳ thú phía bắc tỉnh Tuyên Quang.

Thác Cái sẽ là điểm tham quan du lịch đầy hấp dẫn mang lại nguồn lợi về kinh tế, văn hóa... khi ta có cái nhìn mới về môi trường sinh thái, nhân văn trên mảnh đất này. Là một di tích văn hóa tín ngưỡng – đền Thác Cái, thác Cái cần được đặt dưới sự quản lý của nhà nước để trở thành một điểm hẹn hấp dẫn trong tương lai.

Theo PGS. TS. Trần Mạnh Tiến (báo Tuyên Quang), ảnh Phan Thu - Hồng Vân (báo Hải Quan)
Du lịch, GO!

Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2015

Bãi biển Long Thủy -Mỹ Á (Phú Yên)


Biển Long Thủy (thường gọi là Mỹ Á) là nơi có nhiều dừa xanh bóng mát, có dãi cát biển làm bãi tắm tuyệt vời cho du khách.
Đi về hướng Bắc, cách trung tâm thành phố Tuy Hoà-Phú Yên khoảng 10 km đường ôtô, nằm gần kề Quốc lộ 1A thuộc địa phận xã An Phú, thành phố Tuy Hoà. Long Thuỷ đã từ lâu được xem là bãi tắm đẹp nhất Phú Yên. 
Bãi biển nơi này được kết hợp hài hoà độc đáo của phong cảnh thiên nhiên, cùng với những rặng dừa xanh rợp bóng kéo dài trên bờ biển cát mịn. Bãi có cát trắng phau phau trải dài theo mép nước. Nước biển ở đây trong xanh, đáy thoai thoải, trải dài dưới bóng dừa xanh mát. 
Rừng dừa Mỹ Á hết sức thơ mộng, có thể ru hồn khách lãng du trong những đêm trăng thanh gió mát. 



Cách bờ không xa có cụm đảo còn hoang sơ như đảo Hòn Chùa có diện tích khoảng 0,22 Km2 và 2 đảo nhỏ là Hòn Dứa và Hòn Than. Khu vực quanh các đảo này có những rạn san hô có diện tích khoảng 100 ha. 
Ngoài biển Long Thủy có các Cù Lao Hòn Chùa, Hòn Than, Hòn Dứa …, trong đó: Hòn chùa rất thích hợp cho đầu tư du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng. Có thể tổ chức các dịch vụ: lặn biển, câu cá, lướt ván và các trò chơi thể thao trên biển … 

Đi qua Hòn Yến vào xã An Chấn, có chợ Ma Liên nổi tiếng, có Gành ông Gành Bà. 

Từ xa xưa Mỹ Á, Long Thủy đã gợi nhiều cảm hứng cho ca dao Phú Yên.

- Ai về Mỹ Á chi lâu
Để em ôm chiếc thuyền câu đợi chờ.

- Muốn về Mỹ Á ăn dừa
Sợ e sóng lớn nó đùa lộn vô.

- Lấy chồng Phú Cốc sợ beo
Lấy chồng Mỹ Á hồn treo cột buồm

Làng Long Thuỷ xưa có tên là Mỹ Á, thuộc xã An Phú, huyện Tuy An, nay thuộc TP Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên. Từ trung tâm thành phố theo đường Hùng Vương ra QL1A, đi khoảng 7km đến khu vực đồi Thơm, rồi xuôi theo hướng Đông, đến sát bờ biển. Còn đi theo đường Độc Lập ra hướng Bắc thì chỉ 5km.

Làng Long Thuỷ nằm sát biển, có bãi tắm rất đẹp cùng tên. Phía Bắc làng giáp thôn Ma Liên, Mỹ Quang xã An Chấn, huyện Tuy An. Phía Nam giáp ranh phường 9 còn mặt Đông là biển cả mênh mông. Long Thuỷ nổi tiếng có dừa xiêm uống nước rất ngọt, mát. Vườn dừa Long Thuỷ rợp bóng mát, quanh năm che phủ cả thôn.

Biển Long Thuỷ (xưa gọi là Mỹ Á) quanh năm lộng gió, một loại gió hiu nhẹ từ biển thổi vào nên không khí rất trong lành. Ngoài khơi có hòn Chùa án ngữ trước mặt, cách bờ khoảng trên dưới 7 km nên bãi biển nông, thoai thoải… Lớp cát vàng mịn trên bãi rất sạch sẽ để du khách tắm biển, tổ chức vui chơi ngoài trời, cắm trại dã ngoại…

Phía giáp với Mỹ Quang có con suối nhỏ xuất phát từ các thôn Phú Phong, Phú Thạnh, Phú Qúi chảy qua cầu Đồng Nai rồi lặng lờ tuôn ra biển Mỹ Á. Con suối này không có tên gọi nhất định, lúc thì gọi là lạch Phú Quý, lúc gọi lạch Đồng Nai, lạch Mỹ Á… Suối không rộng, có thể nhảy từ bờ bên này sang bờ bên kia ở chỗ đoạn cầu Đồng Nai, nhưng ra gần cửa thì nới khoảng cách hai bờ ra xa hơn. Mực nước trong suối lúc cao nhất cũng chỉ tới thắt lưng, nhưng nước trong leo lẻo, thấy từng đàn cá lội; hai bên bờ lại có hàng dừa cao nghiêng mình soi bóng. Đến Long Thuỷ, du khách còn được thưởng thức nhiều đặc sản như nước dừa xiêm, mực hòn Chùa, cá thu Mỹ Á....cùng nhiều loại hải sản khác.

Ca dao có câu:
Muốn ra Mỹ Á ăn dừa
Sợ truông cát nóng, sợ đường đá dăm
Cát nóng đưa dép anh mang
Đá dăm em lượm còn than nỗi gì?

Về tên gọi Long Thuỷ, có truyền thuyết kể rằng, ngày xưa, đất Phú Yên bị hạn hán nhiều năm liền khiến dân chúng rất lầm than cơ cực vì không có nước để gieo trồng. Người dân lập đàn cầu mưa bao lần mà không được. Một trưa nọ, không rõ từ đâu có hàng ngàn hàng vạn con cóc vàng tràn về các nơi trai đàn, hòa giọng cùng tiếng trống sấm tạo thành âm thanh thôi thúc, bức bách. Thế là trời bỗng tối sầm, gió thổi ào ào, mây vần vũ, sấm chớp vang động. Từ trong những lằn chớp và mây đen kia bỗng xuất hiện con rồng khổng lồ, đầu chúc xuống biển hút nước rồi bay cuộn lên phía núi Chóp Chài, vươn thẳng lên không trung phun nước làm mưa. Những nơi rồng phun nước thẳng xuống, do áp lực quá mạnh nên tạo thành sông (sông Ba, sông Cái…), nhẹ hơn thì thành hồ ao. Nhờ vậy nên người dân có nước để gieo trồng, cày cấy. Khi rồng chúc đầu hút nước, đầu rồng nhằm vào biển Long Thủy nên có tên gọi như ngày nay. 

Một câu chuyện khác lý giải như sau, bữa nọ, hai cha con họ Trần đi biển. Sau khi kéo lưới lên thuyền, vừa gỡ cá xong, chưa kịp quay vào bờ thì từ ngoài biển Đông bỗng đâu mây đen ùn ùn kéo đến, sà thấp sát mặt biển. Hai cha con trông thấy con rồng đen khổng lồ thò vòi dài từ trên cao hút nước biển. Rồng đen chưa bay lên phun nước thì bỗng đâu con rồng khác màu đỏ lao tới, giương nanh vuốt ra tranh với rồng đen hút nước. Hai con tranh nhau làm cho mặt nước hõm xuống, nước cuộn thành vòi bốc lên cao, sôi réo ầm ầm. Sóng cao chục trượng ập vào bờ, mưa xối như trút. Thuyền của cha con ông họ Trần bị đập văng lên bờ. Nhưng may là không ai bị thương vong. Sau này dân xứ này lập miếu thờ. Từ đó hai rồng thôi cuộn xoáy, tranh giành hút nước mà chỉ làm mưa, mưa đến chín chiều vào tháng Tư tháng Năm âm lịch hàng năm.

Thắng Cảnh Vực Phun (Phú Yên)


Đi về phía thượng nguồn sông Bánh Lái tới vùng núi Đá Đen thuộc xã Hoà Mỹ Tây, huyện Tây Hoà - bạn sẽ thấy Vực Phun hiện ra giữa núi rừng hùng vĩ, đẹp như một bức tranh.

Dòng nước của con suối Cái chảy đổ xuống một vực sâu từ độ cao 50 mét so với mực nước biển tạo thành một dòng thác lớn trắng xoá. Dưới vực có nhiều tảng đá lớn khiến nước dội ngược lên rất mạnh, có lẽ vì vậy mà dân địa phương đặt tên là Vực Phun.

Sở dĩ, có tên gọi này, bởi do cấu tạo địa chất giữa phía trên vực là những tầng lớp đá rắn chắc và phía dưới vực là tầng đá mềm bị xâm thực xói mòn dần theo năm tháng, tạo thành hố. Nước từ thượng nguồn chảy xuôi lao xuống hố vực, tung bọt trắng xoá như thể từ bên dưới, có một vật khổng lồ phun nước lên cao vậy.

Vực Phun, nằm lọt thỏm trong dãy núi Đá Đen, giữa bạt ngàn rừng cây và đồi núi chập chùng, tạo thành cảnh quan hết sức thơ mộng. Đặc biệt, từ lòng vực trở lên vách đá cheo leo với nhiều chỗ dựng thẳng đứng như bức tường thành, từ trên cao nhìn xuống, du khách dễ có những cảm giác mạnh. phía khác lại là những phiến đá rộng lớn, phẳng lì, làm cho hình dáng Vực Phun thật đa dạng và hùng vĩ.



Theo truyền thuyết thì từ thuở xa xưa, khu vực này, là núi non hiểm trở, nhiều thú dữ cư dân quanh vùng, không người nào dám bén mảng tới đây, để khai thác trầm hương, chai, hột ư, hột đát… vì có con rắn thần khổng lồ chiếm cứ khu vực này, mà cả đến mãnh hổ, sư tử cũng phải tránh xa. Nằm trong khu vực này, cách đó ba dặm hú, phía dưới chân núi, là một thung lũng bằng phẳng rộng hàng trăm mẫu, có thể khai thác để trồng lúa nước và các loại hoa màu, thuộc sở hữu của tay phú hộ ở hạ lưu sông Bánh Lái, nhưng nhiều năm liền đều phải ở trong tình trạng hoang hoá.

Ông phú hộ có cô gái út xinh đẹp, thông minh, nhiều nơi đánh tiếng nhưng xem chừng cô chưa bằng lòng lấy ai. Đây là cơ hội để ông phú hộ nọ mưu đồ việc riêng tư. Ngày kia, ông bàn bạc với ba người vợ, rồi treo yết khắp làng hễ ai diệt trừ được con ác thú kia thì ông gả con gái và chia nhiều ruộng đất cùng gia súc. Tin được loan truyền khắp nơi. Nhiều thanh niên võ nghệ cao cường đã đến khu vực Đá Đen, với lòng quết tâm chiến thắng để chiếm được người đẹp. Nhưng tất thảy mọi người ra đi mà không trở về, hay may mắn trở về, thì thân thể không còn nguyên vẹn như trước. Nhưng điều đáng sợ hơn, là con mãnh thú này bắt đầu trở nên hung hãn hơn: đêm đêm, tấn công vào nhà các cư dân quanh vùng, bắt đi bất kỳ vật gì trước mắt chúng: gà vịt, bò heo và thậm chí cả đến con người.

Mối nguy hiểm càng tăng theo nỗi khiếp sợ. Nhiều dân lành, đã phải dời bỏ nơi chôn nhau cắt rún, đi tha phương cầu thực. Gia đình phú hộ, cũng tính đến chuyện di chuyển đi nơi khác, sau khi con quái vật kia, hai lần vượt qua những tầng rào kiên cố bảo vệ gia sản.
Chuyện bi thương, tưởng có thể xảy ra lập tức thì một hôm sau, có một chàng thanh niên phương xa đi ngang qua, nhìn thấy cảnh nhốn nháo trong làng, bèn hỏi cớ sự mới hiểu rõ ngọn ngành, rồi xin phép dân làng chỉ hướng để chàng đi trừ diệt ác thú. Nhiều người dân thương cảm, vì thấy chàng quá trẻ, làm vật hy sinh sau bao nhiêu người đi trước, ra sức can ngăn. Nhưng chí chàng đã quyết: “Kẻ hèn này, không trừ được thì đành chấp nhận làm mồi cho nó”, nói và chàng lên đường.



Chàng trai lặn lội vào tận rừng sâu. Ra đi từ lúc hừng đông, cho tới xâm xẩm tối mới đến bãi đá toàn màu bầm đen, mà chàng đoán là máu của các nạn nhân trước đó lâm nạn thấm sâu vào tầng sâu của đá. Đêm bắt đầu tối dần, rồi chuyển đen màu mực. Trên tầng dày và cao của những tán lá, chỉ nhìn thấy leo lét mảnh trăng khuyết nhợt nhạt. Từ phía đầu hướng gió, một mùi hôi thối xông lên nồng nặc, khiến chàng thanh niên cảm thấy lợm giọng, buồn nôn. Mùi âm khí ấy, mỗi lúc một dày hơn. Chàng bèn đứng dậy và tiến ra chỗ bãi đá bằng phẳng, nơi ấy có cây săng lẻ to chỉ bằng bắp chân nhưng vô cùng dẻo chắc. Chàng tựa vào thân cây quan sát. Mùi hôi thối lúc một nặng mùi.

Và rồi trước mặt chàng xuất hiện một vật dài ngoằn và to như voi, trên thân mình có những vảy phát sáng như đốm lân tinh. Con vật trườn thật nhanh, trườn đến đâu cây cối ngã rạp đến đó. Từ miệng nó phát ra những tiếng phì phì như bão. Nhanh như cắt, chàng thanh niên nhổ bật rễ cây săng lẻ, đứng thủ thế chờ con quái vật. Khi nó lao tới định cuốn gập miếng mồi, cũng là lúc chàng lạng người sang một bên và đồng thời lao thẳng gốc cây săng lẻ vào giữa thân nó. Tưởng đó là con mồi, con vật uốn cong người và cuộn tròn cây gỗ lại siết chặt. Chỉ chờ có vậy, chàng thanh niên lao tới như mũi tên bắn, hai tay bẻ gập khúc đuôi con vật, luồn tới phía trước quấn siết vào cổ nó.

Đúng lúc đó, chàng nghe một tiếng “rốp” thật dòn rồi phần đuôi dãn ra ngay đờ. Chàng biết, đó là tiếng gãy của một phần khúc xương đuôi, và như thế chiếc đuôi của nó đã trở thành vô dụng nên buông tay ra và kịp bám thít chặt vào cổ nó. Con vật gần như bị ngạt thở, cố vùng vẫy và lao tới phía trước, lôi theo chàng thanh niên bám nhùng nhằng trên lưng một khoảng khá xa. Đến hết bãi đá đen phẳng phiu là một cái ao sen, con vật đâm bổ xuống đó quẫy lộn, lôi theo cả chàng thanh niên.



Cả hai đều cố hết sức để loại địch thủ: một bên cố giết chết con vật hung ác, cứu dân lành vô tội, một bên là cố quật chết kẻ thù, không gọi mà đến. Hai bên quần thảo từ đầu hôm đến canh năm. Cả hai gần như đuối sức. Chàng thanh niên rời con vật bám vào thành bờ ao. Còn con vật hung ác thì ngóc cổ lên khỏi mặt nước ngầu đục bùn đất, thở phì phò. Thỉnh thoảng, nó lịm đi chìm trong đáy ao, cố hết sức quẫy đạp và phun lên những mảng nước như thể người ta cầm gàu tát. Con hung thú kia quẫy đạp cho đến khi tắt thở. Cái ao trước kia, chỉ sau một đêm đã thành sâu hoắm, tạo thành vực như bây giờ. Còn lằn rãnh con thú kéo chàng thanh niên đi, trở thành dòng sông Bánh Lái.

Một truyền thuyết khác kể rằng, xưa con rắn thần trên thiên, đình trốn xuống trần gian, chuyên bắt đàn bà con gái mang đi làm vợ. Một ngày kia, có một cô gái xinh đẹp sắp về nhà chồng, thì rắn thần mò tới bắt cô ta mang lên bãi Đá Đen. Người chồng sắp cưới, là tay võ nghệ cao cường nhất vùng đuổi theo, quần thảo với rắn thần năm canh giờ, thì cả hai đều đuối sức và tắt thở. Cô gái vì tình yêu, vì nghĩa… đã ngồi trên bãi đá than khóc nỉ non. Nước mắt cô ta, đã xói mòn cả bãi đá cứng tạo thành miệng vực như ngày nay.

Cũng có câu chuyện hoàn toàn khác được kể như sau: ở một làng nọ, có anh học trò nghèo, học rất giỏi, nhưng số phận không được như mong muốn. Bao nhiêu lần ứng thí, nếu không bị bệnh trong trường thi ,thì trên đường lai kinh cũng gặp những tai nạn nho nhỏ. Cha cô gái là người tham quyền chức và của cải. Tưởng chàng trai kia đỗ đạt làm quan sẽ vinh quy bái tổ “kiệu anh đi trước võng nàng theo sau”, nhưng ba bốn mùa thi đã trôi qua, mà chàng thanh niên kia không đậu đạt gì, người cha trở mặt đem cô con gái, gả cho tay phú gia làng bên làm vợ lẽ.

Quá  đau xót và thất vọng, chàng bỏ nhà vĩnh biệt người yêu ra đi. Riêng cô gái vì nhớ thương và chờ đợi mỏi mòn, nên một ngày kia, cô cũng bỏ nhà ra đi. Cô đi mãi đi mãi, hết rừng này đến núi nọ, băng qua bao nhiêu đèo cao suối sâu, cốt mong sao tìm gặp được chàng, hai người sẽ dựng lều ven chân núi để hưởng hạnh phúc dài lâu. Nhưng đường đi chập chùng xa, mà bóng chàng thì mãi biệt tăm. Quá đau khổ, cô gái ngồi bên tảng đá than khóc cho số phận. Nước mắt nàng, chảy dài, chảy mãi không dứt, làm xói mòn tảng đá cứng và biến thành vực sâu hun hút, nay là vực Phun.

Đến với Vực Phun, du khách sẽ được thưởng ngoạn một vùng phong cảnh non nước hữu tình cùng nhiều hoạt động du lịch hấp dẫn như: tìm hiểu sinh thái rừng, leo núi, tắm suối, cắm trại...

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Vietgle, Phuyentourism, ảnh internet

Suối Cồi (Phú Yên)


Ai lên Suối Cối, Đồng Dài
Tìm ai lặn lội mệt hoài khổ thân.
Tìm ai thì mặc tìm ai
Cần chi để ý cho hoài nhọc công!

Thôn Suối Cối thuộc xã Xuân Quang 1 huyện Đồng Xuân. Suối Cối nằm dọc theo trục huyện lộ từ La Hai đi Phú Mỡ. Phía Đông giáp thôn Bình Thạnh, Tây giáp thôn Kỳ Lộ, Nam giáp rừng núi, phía Bắc giáp sông Kỳ Lộ. Suối Cối dân sống tập trung ở hai khu vực riêng biệt là Suối Cối dưới còn gọi là Buôn Suối Cối và Suối Cối trên là của người Kinh.

Đến Kỳ Lộ, ta thấy dân làng ở rải rác ven lộ hoặc sâu vào các sườn núi. Cách ăn mặc của người dân tộc hầu như đã lai người Kinh từ lâu. Nhà ở giống như người Kinh bằng gạch mái ngói, nền xi măng hoặc mái lợp tranh vách đất. Quần có đáy, áo cổ bẻ ( sơ-mi) màu sắc sặc sỡ, hoa văn rằn ri, người dân tộc có màu da sậm đen, tiếng nói cũng nặng hơn.



Dân ước độ 150 hộ sống nghề nông, số ít buôn bán. Sản phẩm chính là thuốc lá và mía. Từ trước đến nay thuốc lá ngon nổi tiếng khắp nơi là "thuốc lá Kỳ Lộ" và chưa nghe ai nói thuốc lá Suối Cối. Nhưng thực tế thuốc lá nhiều và ngon được trồng ở khu vực Suối Cối. Dân Kỳ Lộ không chuyên trồng thuốc lá, mà có trồng cũng không ngon bằng. Những người nghiện thuốc lá khi hút một vài hơi có thể phân biệt được thuốc lá Kỳ Lộ ( Suối Cối) với các nơi khác. Bởi vì hương vị của mỗi nơi có tính riêng biệt. Tỉnh Phú Yên có hai nơi nổi tiếng về thuốc lá ngon là " Thuốc lá Lỗ Quy " ( Trãng Giới) thuộc xã Sơn Định và thuốc lá Kỳ Lộ ( Suối Cối) thuộc xã Xuân Quang 1. Thuốc lá Lỗ Quy có mùi thơm dịu, vị nhẹ, hút vào một điếu cảm thấy người lâng lâng sảng khoái. Thuốc lá Kỳ Lộ mùi thơm nồng, vị nặng, hút vào người chếnh choáng ngây ngất, nếu không quên ít ai hút hết một tàn.

Suối Cối và các vùng khác của xã Xuân Quang, Xuân Phước đất thích nghi trồng mía. Đường La Hai nổi tiếng có chất lượng cao, cả vùng Đồng Xuân mía đường nhiều và tốt.
Chợ Suối Cối nằm sát trục lộ, có lều gạch lợp ngói, bốn bên trống trải, nhà dân ở hai bên lùi về phía sau. Ngày trước cũng có họp phiên chính, nhưng ít người. Khi huyện mở mang, xe lên xuống hằng ngày theo chuyến xe đò từ Tuy Hòa, thường vào nửa buổi chiều đến gần tối. Những người buôn bán mang hàng tạp hóa, thủy sản đem lên bày bán rồi mua thổ sản, lâm sản đem về.



Trong kháng chiến chống Pháp, trận Suối Cối đã tiêu diệt Tiểu đoàn Ngự lâm quân số 2 của địch vào ngày 21-03-1954 do Trung đoàn phó Trung đoàn 803 Hà Vi Tùng trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 365.
Những năm chống Mỹ, Xuân Quang 1 gồm các thôn Kỳ Lộ, Đồng Hội, Đồng Xe, Thác Dài, Suối Cối, Phú Giang là căn cứ vững chắc của Đồng Xuân của Phú Yên để rồi ngày 23-09-1961 khi giải phóng Đồng Tre, Xuân Phước, Tổng đoàn Dân vệ ở Kỳ Lộ bỏ chạy, vùng Suối Cối, Thác Dài là vùng giải phóng sớm nhất của Phú Yên.

Ông Năm Phổ ( Hồng Châu), người Quảng Ngãi là Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên những năm 1956 đã từng ca ngợi con người của vùng đất này:
Đồng bào Xuân Phước, Xuân Quang
Hy sinh thì chịu, đầu hàng thì không.

Theo Nguyễn Đình Chúc (Báo Phú Yên)
Du lịch, GO!

Đầm Ô Loan (Phú Yên)


Phú Yên vốn nổi tiếng với danh thắng độc đáo Gành Đá Đĩa. Nhưng ít ai biết rằng, cách đó không xa tồn tại một vẻ đẹp hữu tình của mây trời sông nước – đầm Ô Loan.
Đầm Ô Loan thuộc địa phận huyện Tuy An, có diện tích toàn mặt nước là 1.570ha và độ sâu trung bình 1,2 - 1,4m, mùa mưa có thể sâu tới 3m. Đầm cách thành phố Tuy Hoà về phía Bắc 20km, được bao bọc chung quanh bởi 5 xã và 10 thôn làng. Nước trong đầm thuộc loại nước lợ do đầm ăn thông ra biển bằng cửa Lễ Thịnh, đưa nước mặn vào đầm mỗi khi thuỷ triều lên, đầm cũng nhận nước ngọt từ sông Cái và các con suối nhỏ chung quanh đổ vào.



Trên đỉnh đèo Quán Cau, phóng tầm nhìn bao quát khắp cả vùng, đầm Ô Loan như một mặt hồ rộng yên ả được bao bọc bởi những dãy đồi thấp thoai thoải với những ruộng mía xanh ngắt. Nhìn từ phía Nam, đầm Ô Loan giống như chim phượng hoàng đang xoải cánh, còn trên bản đồ Ô Loan giống con thiên nga đang thong thả bay trên bầu trời cao xanh thăm thẳm.

Phía Tây đầm Ô Loan là những quả đồi nhỏ nằm san sát nhau, phía Đông là mả Cao Biền, dân gian cho rằng trên đường đi ếm hại nhân tài nước Nam, Cao Biền đã bị trời chôn tại đây. Nhưng thật ra, đây không phải là mả mà là một cồn cát, tuy nằm sát biển, sóng gió vô chừng nhưng nhờ có một luồng gió xoáy mang cát bồi đắp, nên không khi nào mả bị sụp xuống thấp.

Nhìn về hướng núi Từ Bi sẽ thấy một doi đất chảy ra đầm Ô Loan như một con chim hạc vừa giang đôi cánh rộng vừa cúi đầu xuống mặt hồ uống nước. Núi Từ Bi chính là nhánh nhỏ của đèo Quán Cau, phía dưới có con suối cùng tên chảy ngoằn ngoèo qua các khe núi rồi chảy ra đầm trông rất lạ mắt. Còn trên bản đồ, đầm Ô Loan lại giống như con thiên nga đang thong thả bay.

Trong bất kỳ thời điểm nào của một ngày, bạn cũng có dịp tận hưởng những khoảnh khắc đẹp nhất: khi bình minh lên, các dãy đồi phía Đông – Nam có dáng như một con chim khổng lồ đang chuẩn bị cất đôi cánh bay lên trời cao lộng gió, khi hoàng hôn buông xuống các dãy đồi phía Đông như con chim đang xoải rộng cánh trên mặt hồ.



Quan sát cảnh tượng quanh bờ, bạn không khỏi ngỡ ngàng bởi quanh bờ có những ghềnh đá nhô ra với nhiều hình dạng khác nhau, có nhiều cách so sánh ví von như cánh chim vươn cao, như tà áo lụa bay mềm mại. Có rất nhiều thi sĩ đã nảy sinh cảm hứng viết lên những vần thơ tuyệt bút từ cảnh tượng thiên nhiên tươi đẹp nơi đây.

Ô Loan là một đầm nước lợ, gần như nằm trọn trong đất liền. Nhờ điều kiện thuận lợi, con nước liên tục lưu thông, cả nước mặn và nước ngọt nên sản vật ở đầm Ô Loan vô cùng phong phú.



Đầm có món đặc sản là sò huyết cơm dày thịt, ngọt và thơm. Dưới thời phong kiến, các quan lại khi về Phú Yên thường ra đầm Ô Loan thưởng ngoạn phong cảnh và thưởng thức món sò huyết. Ngoài ra, còn nhiều đặc sản ngon khác như hàu và cua huỳnh đế cùng nhiều món khác như tôm rắn, tôm bạc, mực, sứa, rau câu, điệp, cá mú… đủ sức làm thỏa mãn khách sành ăn.

Đặc biệt, du khách đến đây còn được tận hưởng cái thú thả bè ra giữa đầm trong đêm khuya tĩnh mịch chỉ có tiếng sóng nước, ếch kêu mà thưởng thức những món ngon của đầm Ô Loan.



Hàng năm đến ngày mùng 7 tháng giêng âm lịch, lễ hội cầu ngư của ngư dân vùng đầm Ô Loan được tổ chức, hàng vạn người từ khắp nơi về tham dự.

Tham quan đầm Ô Loan mỗi khi bình minh lên hay hoàng hôn xuống, du khách có thể cảm nhận được vẻ đẹp kỳ vĩ của đầm trong sắc màu kỳ diệu của mặt trời, rồi ví von như những cánh chim đang vươn cao hay tà áo lụa khổng lồ mềm mại cứ từ từ bay lên cùng trời đất. Và đó cũng là thi hứng để biết bao vần thơ tuyệt bút của nhiều thi sĩ tài hoa được chắp cánh khi đến với danh thắng độc đáo này của vùng đất Phú Yên. Đầm Ô Loan được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là di tích danh thắng quốc gia.

Du lịch, GO!

Núi Chà Rang (Phú Yên)


Chim bay về núi Chà Rang,
Nhớ người chí sĩ Cần Vương dựng cờ.
Chim kêu trên núi Chà Rang,
Đôi ta xa cách muôn vàn nhớ thương.

Đứng ở Quốc lộ 1A nơi xóm Gò Điều, ngó về hướng tây, ta thấy một hòn núi nối liền với nhiều hòn núi khác nhỏ hơn, nhấp nhô trùng điệp, tiếp giáp dãy Trường Sơn từ Bắc chạy vào Nam. Núi ấy là hòn Chà Rang.
Núi Chà Rang là một hòn thổ sơn nằm phía Tây Bắc thôn Trường Định, ngày nay thuộc thôn Phú Điềm, xã An Hòa - phía Đông và Nam giáp Quốc lộ 1A, phía tây giáp An Thọ, phía bắc giáp An Hiệp.



< Núi Chà Rang nhìn từ cầu Phú Điềm.

Núi không cao lắm và không có cây cây to, rừng rậm mà chỉ mọc toàn bụi chà là. Trên núi, ngày xưa ngoài giống chim tu hú không còn giống vật gì có thể làm hại người.

Chung quanh chân núi không có làng mạc, phía Bắc và phía Đông cách non cây số mới có dân cư sinh sống. Triền núi phía Đông có đất màu mỡ, mấy mươi năm gần đây dân chúng phát chồi trồng mía, bắp, đậu… từ dưới chân núi lên gần tới đỉnh.

Núi Chà Rang được biết đến bởi sự kiện tế cờ của các chí sĩ Cần Vương. Hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, sĩ phu khắp nơi dựng cờ tụ nghĩa.

Ở Mỹ Phú (xã An Hiệp huyện Tuy An) ông Lê Thành Phương cùng các sĩ phu yêu nước như Nguyễn Hào Sự, Bùi Giảng, Bùi Lương, Nguyễn Thành, Võ Thiệp, Võ Hữu Phú, Đặng Mậu Thưởng, Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Thành Ký… tuyển mộ hương dõng sung vào nghĩa quân.

Phong trào dấy lên rầm rộ, số người tụ nghĩa khắp nơi về ứng mộ rất đông. Ông liền cùng các bạn hữu tổ chức lễ tế cờ tại núi Chà Rang (có tài liệu nói là lễ tế cờ tổ chức tại núi Một, thôn Tân An. Song nếu tế cờ tại núi Một thì thuộc thôn Tân Định chứ không phải thôn Tân An). Sau buổi lễ tế cờ, ông Lê Thành Phương được giới sĩ phu và nghĩa quân tôn lên làm Thống soái chỉ huy nghĩa quân.

Du lịch, GO!

Bãi Tràm (Phú Yên)


Nằm cách trung tâm TX Sông Cầu khoảng 20km về phía bắc có một thắng cảnh thiên nhiên hoang sơ mà độc đáo. Đó là Bãi Tràm ở thôn Hòa Lợi, xã Xuân Cảnh (Phú Yên). Bãi Tràm có bờ biển vòng cung, được bao bọc bởi hai ngọn núi đá tạo khung cảnh thiên nhiên độc đáo và yên ả.
Bãi Tràm là một thung lũng được dãy núi Hòa An bao bọc ba mặt Bắc, Tây và Nam. Phía đông là bờ biển dài khoảng 1km trông tựa như một lưỡi liềm bạc với bờ cát phẳng mịn; nước biển luôn trong xanh, lặng sóng; 2 phía đầu bờ cát có những ghềnh đá như có bàn tay con người sắp đặt nên.



< Bãi Tràm nước trong xanh cạnh bờ cát trắng.

Những ai đã một lần đến đây sẽ dễ bị mê hoặc bởi vẻ đẹp của biển, bãi cát vàng và những ghềnh đá nhấp nhô kỳ ảo. Với bãi biền cát trắng trải dài được bao xung quanh với các đá đỏ và những ngọn đồi có các dòng suối chảy qua, Bãi Tràm sẽ mang lại cho bạn cảm giác như đang sống giữa thiên nhiên.



< Đồng cỏ, phía xa xa là 'nhà' ông Mô Rô.

Ở đây vẫn còn một ngôi nhà được xây bằng đá từ những năm 20 của thế kỷ trước, người dân địa phương vẫn thường gọi là nhà ông Mô-Rô. Ông này có tên đầy đủ là Giăng Mô-Rô (Jean Maureau), người Pháp; được sinh ra tại xã Xuân Cảnh vào năm 1925, tham gia cách mạng và được kết nạp vào Đảng năm 1947. Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, ông Mô-Rô giảng dạy tại Trường CĐSP Nha Trang và mất vào năm 2004.



Để đến với Bãi Tràm, du khách có thể đi bằng đường bộ từ quốc lộ 1A theo đường đất quanh co qua thôn Hòa Hội, vượt cầu gỗ băng đầm Cù Mông đến Hòa Lợi hoặc từ quốc lộ 1D qua thôn Hòa Thạnh đến thôn Hòa Thọ thuộc xã Xuân Hải rồi đến Bãi Tràm. Du khách cũng có thể đi tàu từ vịnh Xuân Đài qua đầm Cù Mông cặp thẳng vào bờ biển phía bắc Bãi Tràm. Nếu đi bằng đường này, du khách có thể nhìn toàn cảnh khu du lịch sinh thái với cảnh quan thiên nhiên đẹp, hấp dẫn những ai yêu loại hình tắm biển, nghỉ dưỡng.



Hiện Bãi Tràm đã được đầu tư thành một khu du lịch cao cấp, trong đó một số hạng mục như nhà hàng - khu đón tiếp, các bungalow, nhà nhân viên… Phần lớn công trình kiến trúc ở đây rất hạn chế việc xây dựng bằng bêtông cốt thép mà sử dụng các vật liệu gần gũi với thiên nhiên, cuộc sống hàng ngày ở nông thôn.
Các nhà nghỉ dưỡng mái được lợp bằng tranh, nằm dưới những tán cây rừng; đồ trang trí nội thất bên trong phần lớn làm từ mây, tre, lá, đặc biệt phòng tắm là một không gian mở với nền gạch, bên trên là bầu trời, xung quanh là phên tre xen lẫn các loại cây chuối, bông giấy nhưng vẫn đảm bảo kín đáo…

< Du khách câu cá trong chiều vắng.

Khu du lịch Bãi Tràm vẫn được tiếp tục đầu tư mở rộng với một quy mô lớn hơn nhằm tiếp tục thu hút thêm nhiều du khách. Thời gian qua Bãi Tràm đã đón nhiều khách quốc tế đến tham quan, nghỉ dưỡng. Trong một tương lai không xa Bãi Tràm sẽ là một điểm đến hấp dẫn của khách du lịch trong và ngoài nước.

Du lịch, GO! tổng hợp