THỜI TRANG

CHIA SẺ

KHÁM PHÁ

SỨC KHỎE

GÓC TRÁI TIM

XÃ HỘI

NHỊP SỐNG TRẺ

BÀI VIẾT MỚI

12 CHÒM SAO

TÔI NHỚ

TÔI YÊU

TÔI TÂM SỰ

TÔI HẠNH PHÚC

BÀI MỚI NHẤT

TIN ẢNH

TIN SHOWBIZ

LÀM ĐẸP

Hiển thị các bài đăng có nhãn Yên Bái. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Yên Bái. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2016

Lên Suối Giàng- Ngắm cây chè Cổ Thụ (Văn Chấn-Yên Bái)

Suối Giàng (Văn Chấn, Yên Bái) nằm trên độ cao 1.400m so với mực nước biển, có khí hậu trong lành mát mẻ với thảm thực vật phong phú. Đặc biệt nhất là những cây chè cổ thụ vốn là đặc trưng nơi đây. 
Chỉ 12km vòng quanh các vách đá kỳ thú, các trảng rừng nguyên sinh, từ trung tâm huyện Văn Chấn, ô tô có thể đến trung tâm xã Suối Giàng. Cung đường quanh co với độ dốc lớn nhưng bù lại khí hậu mát mẻ và cảnh quan thật hùng vĩ.


Cung đường lên Suối Giàng từ Văn Chấn khá quanh co với độ dốc lớn.
Cung đường lên Suối Giàng từ Văn Chấn khá quanh co với độ dốc lớn

Rừng chè cổ thụ Suối Giàng với những thân to hàng trăm năm tuổi, trải rộng hàng trăm hecta. Chè shan tuyết cổ thụ Suối Giàng xưa nay được xem là một trong những thức uống thơm ngon bậc nhất so với sản phẩm từ tất cả các vùng chè trên cả nước. 

    Những gốc chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi là đặc trưng nơi đây

    Không gian hùng vĩ với khí hậu mát mẻ quanh năm
    Không gian hùng vĩ với khí hậu mát mẻ quanh năm

  • Với thân chè 300 năm tuổiVới thân chè 300 năm tuổi

Ngày nay những vùng chè cổ thụ được bảo tồn thành những khu vực riêng. Những đồi chè nhỏ hơn được trồng phủ kín các vùng đồi sẽ cung cấp lượng lớn chè tiêu thụ dưới vùng xuôi. 

Đồi chè xanh ngút ngàn
Đồi chè xanh ngút ngàn

Công nhân đang thu hoạch chè bằng máy
Công nhân đang thu hoạch chè 

Du khách tới đây vẫn tranh thủ hái những lá chè, quả chè trực tiếp từ thân chè cổ thụ về làm quà cho bạn bè và người thân.

Những lá chè tươi từ rừng cổ thụ về làm quà
Những lá chè tươi từ rừng cổ thụ về làm quà

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2015

Di tích Căng và Đồn Nghĩa Lộ (Yên Bái)

Di tích Căng và Đồn Nghĩa Lộ được công nhận là khu di tích lịch sử cấp Quốc gia ngày 27/9/1996 theo Quyết định số 2410- QĐ/ VH của Bộ trưởng Bộ Văn hoá thông tin.Theo Quốc lộ 32 từ Yên Bái vào khoảng 80 km là đến một thị xã nhỏ đầy thơ mộng nằm trong cánh đồng Mường Lò. Đó là thị xã Nghĩa Lộ - một thị xã miền núi nằm ở khu vực Phía Tây của tỉnh Yên Bái. Được thành lập ngày 1/7/1995, dân số 26.785 người, với 16 dân tộc anh cùng chung sống. Thị xã Nghĩa Lộ có 4 phường, 3 xã, điều kiện tự nhiên thuận lợi phía Đông giáp xã Phù Nham - Văn Chấn, phía Tây giáp xã Nghĩa Sơn - Văn Chấn và huyện Trạm Tấu, phía Nam giáp xã Hạnh Sơn - Văn Chấn, phía Bắc giáp xã Sơn A - Văn Chấn. Thị xã Nghĩa Lộ đang vươn lên trở thành trung tâm kinh tế - văn hoá phía Tây của tỉnh Yên Bái.

Đến thị xã miền Tây bạn sẽ được thăm nhà sàn Bác Hồ, thăm khu di tích lịch sử Căng và Đồn Nghĩa Lộ, tham quan và thưởng thức các loại hình văn hoá của dân tộc Thái,… Trong đó, hẳn bạn sẽ không thể nào quên khu di tích Căng và Đồn Nghĩa Lộ, nơi đã diễn ra những trận chiến đấu ác liệt và chiến thắng năm 1952 giải phóng Nghĩa Lộ. Đặc điểm nổi bật của khu Căng Đồn là nằm trên trục chính đường Điện Biên (Quốc lộ 32). Đây là điểm trung tâm của thị xã Nghĩa Lộ và vùng lòng chảo cánh đồng Mường Lò.

Khi nhắc tới lịch sử của Căng và Đồn Nghĩa Lộ là nhắc tới địa danh Văn Chấn và nhắc tới lịch sử nơi này thời kỳ kháng chiến chống Pháp những năm 40 của thế kỷ XX. Với ý đồ dập tắt phong trào cách mạng, Thực dân Pháp lập các trại "lao động đặc biệt" tập trung những người yêu nước. Sau khi Căng Bá Vân (Thái Nguyên) bị giải thể, Thực dân Pháp đã đưa những người yêu nước bị giam về Nghĩa Lộ. Mùa hè năm 1944 chi phủ Văn Chấn đã huy động các tổng, xã bắt phu nộp vật liệu để xây dựng Căng. Thực dân Pháp còn cử tên Đinh Văn Dung và tên Lăm - Be sở mật thám huyện đến kiểm tra đôn đốc khẩn trương ngày đêm. Tháng 1/1945 thì việc xây dựng hoàn thành. Nhìn toàn cảnh lúc này Căng Nghĩa Lộ như một cái tủ dựng đứng có 3 dãy nhà dài "hai dãy là nơi giam giữ chính phạm nam giới, phía trong giam chính trị phạm nữ giới, phía ngoài là nơi thường trực và bên cạnh là trạm gác của lính khố xanh". Bao bọc toàn bộ khu Căng Đồn là hàng rào dây thép gai, phía ngoài hàng rào là hầm sâu có cắm chông, bồn góc Căng có chòi cao sừng sững ngày đêm canh giữ cẩn mật…

Cuộc chiến đấu ác liệt của quân và dân với sự kiện phá Căng Nghĩa Lộ giải phóng Văn Chấn lần thứ nhất năm 1945 ghi lại trang sử oanh liệt. Các chiến sĩ của ta anh dũng hy sinh trên chính khu di tích này và trong cuộc chiến ấy 11 đồng chí đã ngã xuống. 9 đồng chí có tên tuổi và 2 đồng chí chưa rõ tên tuổi. Khi mới đặt chân lên mảnh đất Nghĩa Lộ tham gia kháng chiến vận động nhân dân đi theo con đường cách mạng họ đã làm tốt công tác tuyên truyền và là tấm gương sáng cho những người đi sau vùng lên khởi nghĩa.

Văn Chấn là huyện lớn nằm ở phía Tây của tỉnh Yên Bái, địa hình là một khu núi rừng trùng điệp có nhiều núi cao, hang động sâu thẳm, là vị trí quân sự có tầm chiến lược quan trọng "tiến có thế công, lùi có thế thủ". Cho nên giặc Pháp đã đặt mục tiêu phải chinh phục cho bằng được Văn Chấn.

Thực hiện ý đồ ấy, ngày 2/10/1947 chúng đem quân đánh tái chiếm Văn Chấn, với âm mưu đánh nhanh và sử dụng lực lượng quân sự mạnh, vũ khí tối tân. Thực dân Pháp muốn khuất phục nhân dân các dân tộc Văn Chấn bằng cách bắn giết hết sức man dợ.

Chiếm được Văn Chấn địch dựa vào những tên tay sai lập nên bộ máy cai trị từ huyện đến xã đồng thời đặt đồn Nghĩa Lộ thành phân khu quân sự mạnh nhất trong 4 phân khu ở vùng Tây Bắc Việt Nam.

Sau khi cắm các đồn bốt và dựng lên bộ máy cai trị, giặc Pháp thực hiện âm mưu chia để trị, dùng người dân tộc này giết người dân tộc khác, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, chúng biến hệ thống ngụy quân ngụy quyền thành một công cụ đàn áp bóc lột nhân dân các dân tộc. Chúng chặt đầu, mổ bụng, moi gan một số cán bộ chiến sĩ của ta. Rồi dùng mô đá trên Ngòi Lao làm pháp trường xử tử 76 cán bộ chiến sĩ giữa dòng nước xiết.

Trong gần 5 năm (1947 – 1952) chiếm đóng Văn Chấn chúng đã giết và gây thương tích cho hơn 300 người, làm mất tích khoảng 56 người. Hàng nghìn con em các dân tộc bị cường ép đi làm lính đánh thuê cho chúng, cầm súng bắn lại đồng bào, đốt phá rừng núi quê hương. Ngoài việc bắn giết chúng còn đốt nhà, phá lúa, cướp trâu bò và hàng nghìn tấn lương thực, hãm hiếp phụ nữ và trẻ em. Chúng bắt đồng bào vào ở ngay dưới chân đồn bốt để cắt đứt liên lạc với Việt Minh và bắt đồng bào quen với sự bắn giết man dợ. Đồng thời làm hàng rào bằng xương bằng thịt ngăn đòn tấn công của quân ta. Những cái nhỏ như củ khoai, củ sắn, bát gạo, lưng cơm và cái quý nhất của con người là tâm hồn thể xác đều bị chúng giành giật và thuộc quyền sở hữu của quan đồn.

Trước sự tàn sát của súng đạn, nhân dân các dân tộc Văn Chấn đã trỗi dậy niềm tin, tình cảm và lòng yêu nước với Việt Minh, với kháng chiến. Nhân dân ta đã nổi dậy với tinh thần quyết chiến quyết thắng và giành được thắng lợi vào lúc 5h30 phút ngày 18/10/1952.

Chính sự ủng hộ của đồng bào và quyết tâm giành độc lập tự do cho Tổ quốc làm quân và dân ta đã lập nên chiến công vang dội mùa thu năm 1952 giải phóng Nghĩa Lộ. Thắng lợi ấy là sự chỉ đạo sáng suốt của TW Đảng, quân uỷ TW, là sự chuyển hướng chiến lược hoàn toàn chính xác, là tinh thần dũng cảm kiên cường, đức tính bền bỉ, dẻo dai khắc phục khó khăn của các chiến sĩ đại đoàn 308, 312, 316.

Trong chiến dịch ấy có những chiến sĩ đã ghi danh như: Đặng Đình Duẩn, một mình xung phong vào hầm địch, Phan Đình Mẫn chặt tay mình để tiếp tục chiến đấu, có đồng chí 5 phút ôm 3 quả bộc phá đồn địch và còn biết bao anh hùng liệt sĩ đã dũng cảm hy sinh …

Để tưởng nhớ các trận đấu oanh liệt ngày 25/7/1992, Uỷ ban nhân dân huyện Văn Chấn đã ra quyết định số 18/ QĐ - XD xây dựng "Đài tưởng niệm Căng Nghĩa Lộ" ghi tên 9 đồng chí đã ngã xuống năm 1945:
1- Đồng chí Ngô Gia Bảy, 40 tuổi, dân tộc Kinh. Quê: Phủ Lý, Hà Nam.
2- Đồng chí Nguyễn Doãn Duyệt, 38 tuổi, dân tộc Kinh. Quê: Hải Phòng.
3- Đồng chí Nguyễn Văn Hiếu, 35 tuổi, dân tộc Tày. Quê: Lạng Sơn.
4- Đồng chí Nguyễn Văn Hương, 58 tuổi, dân tộc Tày. Quê: Lạng Sơn.
5- Đồng chí Nguyễn Đăng Kim, 25 tuổi, dân tộc Kinh. Quê: Vĩnh Yên.
6- Đồng chí Đinh Văn Nhu, 42 tuổi, dân tộc Kinh. Quê: Hải Phòng.
7- Đồng chí Nguyễn Văn Phùng, 26 tuổi, dân tộc Kinh. Quê: Bắc Sơn, Lạng Sơn.
8- Đồng chí Phạm Quang Thẩm, 42 tuổi, dân tộc Kinh. Quê: Vũ Thư, Thái Bình.
9- Đồng chí Phạm Văn Vi, 28 tuổi, dân tộc Kinh. Quê: Hà Nam.

Và thể theo nguyện vọng của nhân dân các dân tộc, cựu chiến binh các đại đội chủ lực vào giải phóng Nghĩa Lộ, để ghi lại truyền thống cách mạng, ca ngợi chiến công, khí phách hào hùng của lực lượng vũ trang, tinh thần quật khởi giành tự do của nhân dân các dân tộc trong vùng, đồng thời bổ sung thiết chế văn hoá đô thị khu vực phía Tây tỉnh Yên Bái, ngày 28/3/1997 Uỷ ban nhân dân tỉnh Yên Bái đã có công văn đồng ý xây dựng "Tượng đài chiến thắng thị xã Nghĩa Lộ".

Như vậy, hiện nay khu di tích bao gồm: 1 đài tưởng niệm Căng Nghĩa Lộ, 1 tượng đài chiến thắng Nghĩa Lộ mang hình tượng anh bộ đội cụ Hồ và nhân dân các dân tộc trong chiến dịch giải phóng Nghĩa Lộ tháng 10/1952, cùng với nhà bia ghi tên các liệt sỹ.

Cũng ở chính khu di tích này, hàng năm nhân dân địa phương đều đến thắp hương tưởng niệm. trong các dịp lễ tết, các ngày kỷ niệm (22/12, 18/10, …), các đồng chí lãnh đạo thị xã, những đoàn khách tham quan đã đến thắp hương và ôn lại khí thế hào hùng của những ngày tháng, giờ phút lịch sử. Căng và Đồn Nghĩa Lộ là khu di tích lịch sử thời kháng chiến chống Pháp. Nơi đây đã từng là cứ điểm trọng yếu, là đại bản doanh của Bộ chỉ huy quân khu mà Thực dân Pháp xây dựng nên. Cũng chính tại nơi này, nhiều đồng bào, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh.

Thung Lũng Mường Lò (Nghĩa Lộ-Yên Bái)

Ai đã từng đến Mường Lò (thị xã Nghĩa Lộ), một vùng đất phì nhiêu, trù phú của vùng Tây Bắc, nơi có cánh đồng bằng phẳng, thẳng cánh cò bay rộng thứ hai khu vực Tây Bắc, nổi tiếng với “gạo trắng, nước trong”, với đặc sản chè tuyến Shan cổ thụ, với hương thơm nồng nàn của nếp Tan Tú Lệ. Nơi đây còn là mảnh đất quần cư của người Thái đen giàu bản sắc, đậm đà phong tục, tập quán. 

Với những thửa ruộng bậc thang mượt mà, óng ả trong nắng, trải tới chân núi xa, Mường Lò xứng với câu ca: “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc” nổi tiếng từ lâu.

Thung lũng Mường Lò - Ảnh: Sưu tầm 

Trong số bốn thung lũng lớn nổi tiếng vì phong cảnh đẹp và khí hậu trong lành ở vùng Tây Bắc, thì cánh đồng Mường Lò được xếp thứ hai sau Mường Thanh (tỉnh Điện Biên) và đứng trên Mường Than (Than Uyên, Lai Châu) và Mường Tấc (Phù Yên, Sơn La). Mường Lò hiện nay gồm thị xã Nghĩa Lộ và một số xã thuộc huyện Văn Chấn. Từ trên cao nhìn xuống, cánh đồng Mường Lò như một cái chảo lớn, xung quanh là những triền núi quanh năm mây phủ. Vào mùa xuân, sương mù càng đậm đặc hơn.

Quốc lộ 32 uốn lượn giữa miền núi non Tây Bắc “thanh sơn, bích thủy”. Núi cao, vực sâu, bạt ngàn cây rừng, lau lách. Đỉnh dẫy núi xa đổ xuống những dòng thác mây như từ trên trời đổ xuống mỗi khi vào đông khiến ta tưởng như thấy thác núi Lư trong thơ Lý Bạch đời Đường “Thác bay thẳng xuống ba nghìn thước/Tưởng dải Ngân hà tuột khỏi mây…”. Rồi như một phép màu, con đường quốc lộ bỗng lọt vào một cánh đồng bằng phẳng biêng biếc sóng lúa Mường Lò.


Mỗi mùa lúa chín, những thửa ruộng bậc thang lại vàng rực một màu - Ảnh: Sưu tầm

Mường Lò là cánh đồng lớn thứ hai ở miền núi phía Bắc, chỉ sau Mường Thanh (Điện Biên). Người Thái đen đã định cư lâu đời ở nơi đây. Theo câu truyện sử thi của người Thái, hai anh em Tạo Xuông và Tạo Ngần tìm nơi lập nghiệp. Tạo Xuông đã dừng chân dựng bản làng ở Mường Lò, xây dựng nên vùng đất tổ tiên của người Thái Đen ở khắp vùng Tây Bắc vì thấy ở đây đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi dào. Còn Tạo Ngần lên Mường Then (Mường Thanh ngày nay) xây dựng bản làng người Thái Trắng cũng trồng lúa nước là chủ yếu. 
Thị xã Nghĩa Lộ nhỏ bé miền tây Yên Bái, nằm lọt thỏm giữa lòng chảo cánh đồng Mường Lò bao la, bao bọc bởi dãy Hoàng Liên ngàn năm mây trắng. Mảnh đất rộng chưa đầy 3.000 ha này là nơi sinh sống của 17 dân tộc anh em với dân số trên 27 nghìn người, trong đó dân tộc Thái chiếm tới 44% với bao bí ẩn, hấp dẫn về văn hóa khiến người đời mê mẩn khám phá.  
Con trâu là con vật quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp của người Thái đen Mường Lò. Một năm cầy cấy vất vả trong dịp tết Síp Xí đồng bào dân tộc Thái nơi đây cũng cho trâu được “ăn tết” bằng nghi thức cúng vía cho trâu “Tám khuôn quai”, cầu xin tổ tiên thần thánh che chở, bảo vệ cho trâu được khỏe mạnh để giúp đỡ gia đình trong sản xuất nông nghiệp. 


Mường Lò còn đẹp bởi lời hát Lượn mềm mại bổng trầm, bởi làn điệu Xòe đẹp như thôi miên du khách đường xa - Ảnh: Sưu tầm

Một chiều, bên mâm rượu với canh rêu suối, châu chấu rang khô và thịt trâu sấy bản Đêu, Mường Lò, lại được nghe những câu hát mời rượu:
Ly riệu đầy như tấm lòng không bao giờ vơi/Anh có muốn làm quen/Anh hãy uống cạn ly này/Một ly là để em chào/Hai ly là để làm quen/Em không biết hát/Em hát không hay/Em vẫn hát mời anh ly rượu này…
thì quả là khó lòng rời bước khỏi chốn này.
Đối với người Thái ở Mường Lò (Văn Chấn, Nghĩa Lộ), sống trên vùng đất trù phú, được thiên nhiên ưu đãi ban tặng những sản vật tự nhiên, vì vậy từ xa xưa, họ đã tích lũy, xây dựng được cho mình một nền văn hóa ẩm thực đa dạng, phong phú và vô cùng hấp dẫn. 
Trong các mâm cơm cúng tế đều có món “Khẩu cắm” (cơm nhuộm màu), được nấu từ gạo trắng rồi nhuộm các loại màu: xanh, đỏ, tím, vàng (khẩu cắm khiêu, khẩu cắm lanh, khẩu cắm lăm, khẩu cắm lương...), màu của “khẩu cắm” đều được chiết xuất từ những loại cây, lá, dược thảo tự nhiên nên không hề có hại cho sức khỏe của người thưởng thức. Theo phong tục của họ, 5 màu này thể hiện cho các màu của tất cả các đồ vật trên thế gian. Vì vậy, họ muốn dâng tặng mọi thứ của trời đất mà con người có được cho tổ tiên, thần thánh. Mặt khác, nó còn có ý nghĩa giáo dục con cháu nhớ tới cội nguồn, hướng về tổ tiên...

Đặc sản Rêu suối Mường Lò - Ảnh: Sưu tầm

Cũng tương tự như vậy, “mọk” (xôi tổng hợp) là món ăn quan trọng trong tết Nguyên đán, món này trước được dùng để cúng tổ tiên, sau đó mời bạn bè, anh em cùng thưởng thức. Trong số các loại “mọk” thì “pa Mọk” (xôi cá) được coi là món phổ biến và cũng thơm ngon nhất. Ngoài cá là nguyên liệu chính còn có hoa chuối, hành, gừng, tỏi, sả, ớt, hạt sẻn, các loại rau thơm và bột gạo nếp... Đặc biệt, loại cá làm món “pa mọk” ngon nhất là cá xỉnh (pa khính) và cá khuy - đây là những loại cá nhỏ ăn rêu đá, được bắt tại các con suối chảy quanh vùng Mường Lò.

Món xôi tổng hợp - Ảnh: Sưu tầm

Hấp dẫn và cũng đặc biệt không kém là món “nhứa xổm” (nem chua). Mỗi dân tộc có một phương pháp làm món này khác nhau, với người Thái, họ làm nem chua bằng phương pháp muối chua thịt lợn nạc cùng thính gạo rang trộn với muối, hạt sẻn hoặc hạt dổi... gói bằng lá dong rồi treo trên gác chạn trong khoảng 5 ngày. Đây là món ăn khoái khẩu của đàn ông dân tộc Thái trong các bữa nhậu vào dịp lễ, tết.
  
Gần giống “nhứa xổm” là món “pà” (thịt tái chua), đây là món ăn được chế biến gần giống nem chua, cùng nguyên liệu và cách thức nhưng được ăn ngay mà không phải đợi lên men. Món này đối với người lần đầu tiên tiếp xúc thì phải mạnh bạo lắm mới dám ăn vì được chế biến từ thịt sống, chỉ làm chín bằng thính trong khoảng 1 giờ đồng hồ, được ăn kèm với một số loại lá cây. Tuy vậy, theo đồng bào Thái thì món “pà” rất tốt cho đường tiêu hóa và còn có thể chữa được bệnh tiêu chảy.
“Nhứa giảng” (thịt sấy hay còn gọi là thịt hun khói) là món ăn quanh năm của đồng bào dân tộc Thái. Khi thịt đã ngấm gia vị sẽ được buộc lạt treo lên gác bếp để hong khói, dần dần thịt sẽ khô, chín do sức nóng của gia vị tẩm ướp và của khói bếp củi quanh năm đỏ lửa, sau khoảng 2-3 tháng là có thể ăn được. Khi ăn, người ta phải chế biến lại một lần nữa bằng cách nướng trên bếp than củi hoặc vùi trong tro bếp nóng, sau đó dùng chày gỗ đập dập, xé tơi nhỏ...

Thịt hun khói thơm ngon - Ảnh: Sưu tầm

Ngoài những món ăn kể trên, ngày lễ, tết của người Thái còn rất  những món nữa như: “pỉnh tộp” (cá chép nướng), “lượt tả” (tiết canh), “nhứa mản” (thịt xiên nướng), “nhứa pỉnh phặc phằm” (thịt băm gói lá dong nướng), “côống sượng” (lạp sường), “cỏi nhứa mu” (gỏi thịt lợn), “rốik mu” (rồi lợn), “hắm pết” (tiết canh vịt)... Đó đều là những món ăn rất độc đáo, mỗi món có vị ngon riêng nhưng tựu chung lại đều phản ánh sự đa dạng cũng như những nét văn hóa phong phú trong phong cách ẩm thực ngày tết của người Thái vùng Mường Lò Yên Bái.

Đèo Khâu Phạ (Yên Bái)

Nằm ở khu vực giáp giới giữa huyện Văn Chấn và huyện Mù Cang Chải của tỉnh Yên Bái, đèo Khau Phạ đi qua nhiều địa danh nổi tiếng về du lịch của tỉnh Yên Bái như: La Pán Tẩn, Mù Cang Chải, Tú Lệ, Chế Cu Nha, Nậm Có… ở độ cao trung bình từ 1.200m đến 1.500m so với mực nước biển. Do đèo luôn có mây mù bao phủ, đỉnh núi cao 2.088 mét như nhô lên trên biển mây, nên đồng bào dân tộc Thái xưa kia gọi là "Khau Phạ", dịch ra tiếng Kinh có nghĩa là "Sừng trời".
Từ thành phố Yên Bái, ngược theo quốc lộ 32 chừng 5 giờ đồng hồ, qua xã Tú Lệ, đèo Khau Phạ huyện Mù Cang Chải hiện ra giữa một vùng cao nguyên được bao quanh bởi những dãy núi điệp trùng. Những cung đường đèo quanh co giữa những cánh rừng già còn mang đậm nét nguyên sơ và những triền ruộng bậc thang của các dân tộc H'Mông, Thái.
 
 
Khau Phạ là khu vực giáp giới giữa huyện Văn Chấn với Mù Cang Chải của tỉnh Yên Bái. Trải qua 30 cây số vòng vèo uốn lượn tính từ chân đèo đến cuối Khau Phạ, chỗ cao nhất của đỉnh nằm ở độ cao 1.200m sẽ cho con người chạm tới “linh hồn” của Khau Phạ huyền bí. Đó chính là mây trời trắng xoá và đặc quánh bám quanh, ôm ấp những đỉnh núi, hàng cây, hoa lá. Ở nơi đây, đất trời như hoà làm một. Âm hưởng khèn Mông vang đâu đây như khiến con người lạc vào xứ sở thần tiên.
 
Khau Phạ đẹp nhất vào mùa lúa, tầm tháng 9 tháng 10, khi lúa trên chân ruộng bậc thang chín vàng nương . Đây là thời điểm được nhiều khách du lịch lựa chọn để chinh phục đèo và ngoạn cảnh. Ngoài ra, đến đây, du khách còn được ngắm những cung đường đèo quanh co giữa những cánh rừng già nguyên sơ, hoang dã. Trong rừng còn lưu giữ và bảo tồn nhiều loại động, thực vật quý như: vượn đen tuyền, voọc xám; thông dầu, chò chỉ và các loại chim muông, thú quý hiếm khác.
 
 
Không chỉ là một cung đường đèo nổi tiếng trong du lịch, địa danh Khau Phạ còn gắn liền với những chiến công được ghi trong lịch sử cách mạng tỉnh Yên Bái: Trước năm 1945, đội du kích Khau Phạ đã lợi dụng địa hình và nương theo mây gió quánh đặc trên đèo, "xuất quỷ nhập thần" liên tục đánh chặn các cuộc hành quân của thực dân Pháp từ Nghĩa Lộ đi Lai Châu, Lao Cai và ngược lại bằng súng kíp hoặc bẫy đá, khiến quân Pháp hãi hùng kiêng nể gọi là "những chiến binh mây mù". Hiện nay, Yên Bái đang làm hồ sơ di tích, dựng tượng đài tưởng niệm Đội du kích Khau Phạ trên đỉnh đèo.

Mùa thu trên Mù Cang Chải (Yên Bái)

Tây Bắc luôn nổi tiếng với những thửa ruộng bậc thang độc đáo, những con đèo quanh co, những ngọn núi hùng vĩ và con người cực kỳ thân thiện.
Mù Cang Chải là một thị trấn miền núi nhỏ nằm ở phía Tây tỉnh Yên Bái, cách Hà Nội khoảng 300km.Để thưởng thức vẻ đẹp của những cánh đồng lúa chín, các bạn nên đến đây vào khoảng tháng 10.

Tuy nhiên, Mù Cang Chải rất quyến rũ với những thửa ruộng chỗ còn đang xanh mơn mởn thì con gái, chỗ đã chín vàng ươm. Ruộng bậc thang như những miếng xếp hình gắn liền với nhau, phối hợp với nhau một cách vô cùng hài hòa và độc đáo. Các thửa ruộng bậc thang ở ba xã LA Pán Tẩn, Chế Cu Nha và Zê Xu Phình đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam xếp hàng là danh thắng quốc gia.

Những thửa ruộng chỗ còn đang xanh mơn mởn, chỗ đã chín vàng ươm

Đặc biệt, nếu đi bằng xe máy, các bạn sẽ được thưởng thức vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc khi đứng trên đèo Khau Phạ thuộc quốc lộ 32 đi qua Mù Cang Chải - nơi đây được mệnh danh là một trong tứ đại đỉnh đèo của Việt Nam.

Đèo Khau Phạ mờ ảo rong sương mù
Đèo Khau Phạ mờ ảo rong sương mù

Có nhiều con đường từ Mù Cang Chải trở về Hà Nội, nếu chuyến đi của bạn kéo dài khoảng 3 hoặc 4 ngày, bạn có thể vòng qua Điện Biên để thưởng thức vẻ đẹp đẹp hùng vĩ của cầu Pá Uôn và đèo Pha Đin - đây cũng là một trong tứ đại đỉnh đèo của Việt Nam.

 Cầu Pá Uôn
Cầu Pá Uôn

Cầu Pá Uôn bắc ngang sông Đà nằm trên quốc lộ 279 , thuộc xã Chiềng Ơn, huyện Quỳnh Nhai, Sơn La được mệnh danh là Đông Dương đệ nhất cầu với độ cao tự nhiên từ mặt đất lên đến mặt cầu xe chạy là 105m, đặc biệt nhịp giữa cầu cao đến 120m. Đứng giữa cầu, con người chỉ là một chấm nhỏ bé giữa bức tranh sơn thủy với núi non xanh biếc, sông sâu thác dữ, mây trắng vờn trên đỉnh. Nhìn từ xa cầu Pá Uôn như một con rồng bê tông cốt thép lừng lững giữa hai triền núi cao chót vót.

Để đi hết Tây Bắc có lẽ tốn khá nhiều thời gian, tuy nhiên nếu bạn chỉ có thời gian từ 3-4 ngày, hãy đến Mù Cang Chải tận hưởng nét đẹp thanh bình và hùng vĩ.

NHỮNG CẢNH ĐẸP CỦA MÙ CANG CHẢI
   

Đèo Pha Đin
Đèo Pha Đin

Em bé vùng cao
Em bé vùng cao
Các sắc màu của ruộng bậc thang
Các sắc màu của ruộng bậc thang

Tú Lệ- Mùa Lúa Chín (Yên Bái)

Những cơn gió thu mang đầy hơi thở của núi, bầu trời cao và trong xanh, nắng vàng như mật ngọt trên những triền núi xanh mê mải, ở đâu đó, sau một khúc quanh của núi, là biển lúa rập rờn óng ả…
Những cánh đồng chín vàng rực rỡ ở thung lũng Tú Lệ thuộc huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái chuẩn bị bước vào mùa gặt.


Tú Lệ mùa lúa chín đẹp rực rỡ làm say mê trái tim lữ khách
Thung lũng Tú Lệ mùa lúa chín vàng đồng. - Ảnh: Amateur Pic

Thung lũng Tú Lệ nằm giữa ba ngọn núi cao là: Khau Phạ, Khau Thán, Khau Song. Từ Văn Chấn theo quốc lộ 32 lên Mù Căng Chải, trước lúc vượt đèo Khau Phạ thì thung lũng Tú Lệ là với cảnh sắc thiên nhiên đẹp của một vùng quê yên bình luôn là nơi níu chân du khách phải ở  lại.

Tú Lệ mùa lúa chín đẹp rực rỡ làm say mê trái tim lữ khách
Du khách luôn bị “ níu chân” nghỉ lại khi đến thung lũng Tú Lệ . - Ảnh: Hachi8

Tú Lệ mùa lúa chín đẹp rực rỡ làm say mê trái tim lữ khách
Thiên nhiên Tú Lệ đẹp khiến bao du khách ngỡ ngàng. - Ảnh: An Khang

Vào mùa thu khắp thung lũng Tú Lệ lúa chín vàng rực rỡ nhìn xa xa như những con sóng thủy triều nhấp nhô. Có dịp đến Tú Lệ vào mùa gặt du khách sẽ cảm nhận được không khí náo nức rộn ràng của người dân tộc gặt lúa, sẽ nhớ mãi mùi cơm mới theo gió bảng lảng trên chái nhà…Với một thi sĩ yêu thơ, yêu thiên nhiên cảnh sắc trữ tình thì thung lũng Tú Lệ có thể ví như một cô gái miền sơn cước xinh đẹp tinh khôi.

Tú Lệ mùa lúa chín đẹp rực rỡ làm say mê trái tim lữ khách
Những căn nhà nhỏ xinh xắn ẩn mình giữa cánh đồng lúa chín vàng ươm. - Ảnh: Dzung Nguyen

Tú Lệ mùa lúa chín đẹp rực rỡ làm say mê trái tim lữ khách
Lúa chín vàng đầy đồng nhìn xa xa trông như những con sóng thủy triều nhấp nhô. - Ảnh: 117 Imagery

Các thửa ruộng ở thung lũng Tú Lệ đa số chỉ trồng một mùa vụ, bên cạnh đó có những hộ dân trồng hai vụ mùa. Chính điều đó làm bức tranh Tú Lệ trở nên đa sắc đủ vần điệu bởi những mảng lúa vàng tô điểm những đốm lúa xanh rì.

Tú Lệ mùa lúa chín đẹp rực rỡ làm say mê trái tim lữ khách
Mùa lúa xanh, xanh ngắt tận chân trời ở thung lũng Tú Lệ. - Ảnh: Tuan Trung

Tú Lệ mùa lúa chín đẹp rực rỡ làm say mê trái tim lữ khách
Không khí náo nức rộn rạng ở Tú Lệ vào mùa gặt. - Ảnh: 117 Imagery

Vào mùa gặt những người lớn phải ra đồng gặt lúa, những em lớn ngoài giờ đến lớp cũng ra đồng phụ giúp cha mẹ, chơi đùa cùng nhau và cánh đồng đã là nơi gắn liền với tuổi thơ trong sáng của các em bé vùng cao.

Tú Lệ mùa lúa chín đẹp rực rỡ làm say mê trái tim lữ khách
Cánh đồng là nơi gắn liền với tuổi thơ của trẻ em ở vùng cao Tú Lệ.  - Ảnh: Break_away

Khách du lịch đến vùng núi cao thường hay trông thấy những em bé nhỏ được các mẹ địu trên lưng ra đồng, đây là điều đặc trưng so với các miền quê Việt Nam ở vùng Đồng bằng. Đứng trước một thiên nhiên đẹp, hình ảnh người mẹ địu con giữa cánh đồng lúa ngả vàng chín rộ mênh mông như một bức tranh thì khó có một nhiếp ảnh gia nào cưỡng lại được không chụp lại một vài tấm làm kỷ niệm khoảnh khắc đó.

Tú Lệ mùa lúa chín đẹp rực rỡ làm say mê trái tim lữ khách
Mẹ cùng con đón bình minh trên cánh đồng đang ngả vàng chín rộ. - Ảnh: Lio

Tú Lệ mùa lúa chín đẹp rực rỡ làm say mê trái tim lữ khách
Người dân tộc Hmong ở Tú Lệ địu con ra đồng. - Ảnh: 117 Imagery

Những lữ khách yêu thiên nhiên, thích thơ và lãng mạng còn bị thu hút bở cái đẹp khác ở Tú Lệ, đó là sáng sớm tinh mơ, dậy thật sớm để ngắm bình minh ló rạng sau lưng đồi núi trùng điệp. Mặt trời từ sườn đồi lên trải vàng xuống thung lũng, quyện với mây mờ sương phủ dần tan biến nhường chỗ cho những ánh nắng mới tinh khiết trong trẻo làm sao.

Tú Lệ mùa lúa chín đẹp rực rỡ làm say mê trái tim lữ khách
Bình minh ló dạng ở Tú Lệ như một bức tranh huyền diệu. - Ảnh: Ngodung

Tú Lệ mùa lúa chín đẹp rực rỡ làm say mê trái tim lữ khách
Cánh đồng ở Tú Lệ đa sắc được tô điểm xanh vàng nhìn từ đèo Khau Phạ. - Ảnh: Hai Thinh

Thung lũng Tú Lệ thu hút rất đông du khách đến tham quan, chiêm ngưỡng, khác với Mù Căng Chải, La Pán Tẩn, ruộng bậc thang ở Tú Lệ mang lại cảm giác gần gũi, thân thiện hơn nhiều bởi ruộng bậc thang ở đây chỉ hơi nghiên tuy có dốc nhưng không cao lắm và nằm ven quốc lộ.

Tú Lệ mùa lúa chín đẹp rực rỡ làm say mê trái tim lữ khách
Một góc ngôi làng ở Tú Lệ bên cánh đồng lúa vàng rực rỡ. - Ảnh: Break_away

Vẻ đẹp nơi thung lũng Tú Lệ mang lại cho lữ khách cảm nhận rằng chỉ có thể giơ tay mình ra phía trước là chạm được, đưa mũi lên ngửi là có thể hít hà hương nếp căng mọng vào lồng ngực chứ không nằm chênh vênh trên những quả đồi hay hun hút sâu trong lung lũng.

Tú Lệ mùa lúa chín đẹp rực rỡ làm say mê trái tim lữ khách
Bình minh trên con đường làng ở Tú Lệ. - Ảnh: Flickr

Lang thang nơi cánh đồng ngắm cảnh và chụp ảnh nhiều du khách sẽ thấy những cô gái Thái, Mông, Dao đeo gùi hối hả từ chợ về nhà hay vội vã cày ải, nhặt cỏ, gặt lúa, nhặt thóc trên thửa ruộng với nụ cười tươi duyên dáng má lúm đồng tiền xinh như hoa trên môi không khỏi khiến trái tim những chàng trai nơi phố thị xao xuyến.

Tú Lệ mùa lúa chín đẹp rực rỡ làm say mê trái tim lữ khách
Nụ cười duyên dáng mú lúm đồng tiền của cô gái Hmong khiến trái tim bao chàng trai xao xuyến . - Ảnh: Ngong_Hangkang

Hiếm có một nhiếp ảnh gia nào không rung động trước cảnh quan thiên nhiên đẹp và không khỏi xao xuyến trước nét đẹp trong sáng của những cô gái miền sơn cước. Nếu bạn là một người yêu thiên nhiên, một lữ khách chuyên nghiệp hãy thử trải nghiệm một lần đến thung lũng Tú Lệ để chinh phục thử thách và trái tim sơn nữ nhé.

Mytour.vn - Hà Lee

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

Khu du lịch Hồ Thác Bà (Yên Bái)

Cách Hà Nội 140km về phía Tây theo quốc lộ 2, trong lưu vực sông Chảy thuộc địa phận huyện Yên Bình và một phần huyện Lục Yên, Thác Bà là tên gọi hồ nước nhân tạo được khởi công xây dựng từ năm 1962 và hoàn thành năm 1970 với mục đích làm nghẽn dòng sông Chảy tạo ra hồ nước phục vụ cho công trình nhà máy thủy điện Thác Bà.

VIÊN NGỌC GIỮA ĐẠI NGÀN

Nguyên trước khi đắp đập làm hồ, trong khu vực hồ Thác Bà hiện nay đã từng tồn tại hai thác nước liên hoàn với dòng nước đổ mạnh và chảy xiết, được người dân địa phương gọi là “thác Ông” - “thác Bà”. 

Sau này khi hình thành hồ thủy điện, cả hai thác này đều bị vùi sâu trong lòng hồ. Để lưu danh những thác nước nổi tiếng gắn với niềm tin thánh tín của người dân địa phương nay chỉ còn trong ký ức, hồ đã được đặt tên “Thác Bà”. Tên “Thác Ông” cũng được đặt cho một cây cầu gần đó.
 Viên ngọc giữa đại ngàn
Hồ Thác Bà - viên ngọc giữa đại ngàn – Ảnh: Thanh Miền (nguồn yenbai.gov.vn)
Vào thời điểm xây dựng, hồ Thác Bà là một trong ba hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam, nguồn cung cấp nước cho nhà máy thủy điện Thác Bà - công trình thủy điện đầu tiên của Việt Nam. Ngoài dòng sông Chảy là nơi cung cấp nguồn nước chủ yếu, hồ Thác Bà còn nhận thêm nguồn nước từ hệ thống ngòi lớn như ngòi Hành, ngòi Cát…, làm tăng lượng phù sa và phong phú các loài sinh vật.
 Đánh bắt tôm, cá trên hồ
Đánh bắt tôm, cá trên hồ Thác Bà – Ảnh: Trọng Thanh (baoanhdatmui.vn)
Với chiều dài 80km, chiều rộng nơi lớn nhất 30km, diện tích 23.400ha trong đó diện tích mặt nước 19.050ha, hồ Thác Bà có sức chứa 3 - 3,9 tỉ mét khối nước, mực nước dao động từ 46 - 58m, đã góp phần rất lớn vào việc cải tạo và điều hòa môi trường, làm giảm nhiệt độ mùa Hè 1 - 2ºC, tăng độ ẩm tuyệt đối vào mùa khô lên 20% và lượng mưa từ 1.700 - 2.000mm, tạo điều kiện duy trì thảm thực vật xanh tốt quanh năm. 
 Bông súng đầm lầy hồ Thác Bà
Bông súng nở đẹp trên đầm lầy hồ Thác Bà – Ảnh: nguồn Phạm Ngọc Bằng Blog’s
Không chỉ là một thắng cảnh hùng vĩ, hồ Thác Bà còn là một di tích lịch sử quan trọng. Tại đây vào năm 1285 đã diễn ra trận Thu Vật do Trần Nhật Duật chỉ huy đánh tan một đạo quân Nguyên - Mông. Ở vùng thượng hồ còn có một số nơi là cơ sở hoạt động của các cơ quan trung ương thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Giữa hồ Thác Bà có động Mông Sơn là nơi Tỉnh ủy Yên Bái làm việc trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Tại khu vực hồ thuộc huyện Lục Yên có nhiều di tích lịch sử như đền Đại Cại, hang Ma mút, chùa São, núi Vua Áo Đen… Các nhà khảo cổ đã phát hiện tại đây những dấu vết của người Việt cổ.
Lặng lẽ hồ Thác Bà  
Lặng lẽ hồ Thác Bà – Ảnh: nguồn ditichlichsuquocgia.violet.vn
Với những giá trị độc đáo cả về cảnh quan và lịch sử, hồ Thác Bà đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận di tích lịch sử danh thắng cấp quốc gia theo quyết định số 2410/QĐ-VH ngày 27-9-1996.

TIỀM NĂNG VÀ TRIỂN VỌNG

Là một hồ nước mênh mông với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, hồ Thác Bà được ví như vịnh Hạ Long trên núi cao của vùng Tây Bắc. Điểm làm nên giá trị của hồ Thác Bà là trong lòng hồ có đến 1.334 đồi đảo lớn, nhỏ chiếm đến 4.350ha. Cảnh quan sơn thủy hữu tình cùng hệ thống hang động ẩn sâu trong những dãy núi đá vôi đã biến hồ Thác Bà thành một trung tâm du lịch sinh thái đầy tiềm năng.
Vịnh Hạ Long trên núi  
Hồ Thác Bà - vịnh Hạ Long trên núi – Ảnh: vietnamplus.vn
Dòng sông Chảy cùng hệ thống các ngòi lớn như ngòi Hành, ngòi Cát… đã hào phóng bồi đắp phù sa nuôi dưỡng những bản làng trù phú ven hồ. Quanh khu vực hồ Thác Bà hiện có đến 13 tộc người gồm Tày, Nùng, Mông, Dao, Phù Lá, Cao Lan… sống trên triền núi hoặc ven hồ. Các cư dân vẫn giữ được nét hoang sơ cùng bản sắc văn hóa độc đáo với những tập tục, truyền thống, lễ hội mang giá trị nhân văn sâu sắc.
Du khách ở làng Ngòi Tu  
Du khách tham quan làng Ngòi Tu - Vũ Linh – Ảnh: Mạnh Toàn (yenbai.gov.vn)
Đến với hồ Thác Bà, du khách có thể dong thuyền lênh đênh trên sóng nước, hòa mình cùng với thiên nhiên và cảm nhận bầu không khí mát mẻ trong lành. Sau khi mãn nhãn với điệp trùng núi đảo giữa mênh mông trời nước, du khách có thể ghé thăm động Thủy Tiên, động Xuân Long, núi Cao Biền, núi Chàng Rể, đền Thác Ông, đền Thác Bà…, khám phá những cánh rừng nguyên sinh hoặc ngược dòng sông Chảy đến với đất Ngọc Lục Yên thăm hang chùa São, đền Đại Cại, bình nguyên xanh Khai Trung… mang đậm những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Tày, Dao…
Du khách tại KDL Ruby  
Du khách tại bến thuyền Khu du lịch Ruby – Ảnh: Trịnh Văn Bộ (Báo ảnh Việt Nam)
Tham quan hồ Thác Bà, du khách không thể không ghé thăm công trình đập thủy điện cao hàng trăm mét sừng sững vươn từ dãy núi Chàng Rễ sang tận chân núi Cao Biền, là niềm tự hào của người dân Yên Bái. Ngay phía trên đập là ngôi đền Thác Bà hay còn gọi Mẫu Thác Bà dựa vào lưng núi Hoàng Thi. Đứng từ sân đền, du khách có thể phóng tầm nhìn bao quát đập thủy điện và cả một vùng trời nước mênh mông với thiên nhiên hùng vĩ của vùng đất giao thoa giữa miền Tây Bắc và Trung du Bắc bộ…
 Đập thủy điện Thác Bà
Công trình đập thủy điện Thác Bà – Ảnh: skd268 (nguồn vnphoto.net)
Không chỉ mang giá trị về môi sinh và cảnh quan, hồ Thác Bà còn có nguồn lợi thủy sản to lớn với hàng ngàn tấn cá, tôm thu hoạch mỗi năm. Du khách đến đây sẽ có dịp biết đến văn hóa ẩm thực lòng hồ với nhiều món ngon dân dã mà cũng rất tinh tế của đồng bào các dân tộc như cơm lam, nộm hoa chuối rừng, thịt gà nấu măng chua hay gỏi cá, nộm tôm… Những món ăn đặc sản hồ được chế biến khéo léo từ các loài thủy sản đặc trưng vùng hồ như Ba ba, cá Lăng, cá Chiên, cá Quả, cá Tầm… sẽ đem lại cho du khách những trải nghiệm lý thú.
Khu du lịch cộng đồng Ngòi Tu  
Du khách tại khu du lịch cộng đồng Ngòi Tu – Ảnh nguồn yenbai.gov.vn
Trong những năm gần đây, thắng cảnh vùng hồ Thác Bà được đánh giá là điểm đến hấp dẫn nhưng việc khai thác du lịch còn chưa tương xứng với tiềm năng… Ngoài khu du lịch cộng đồng Ngòi Tu ở Vũ Linh, khu du lịch Tân Hương, khu du lịch sinh thái Ruby, các dịch vụ đưa đón, phục vụ khách của các hộ dân, một vài nhóm văn nghệ không chuyên ở Yên Thành, Xuân Lai sẵn sàng biểu diễn phục vụ khách tham quan, và ở quy mô lớn hơn là các hoạt động “khám phá Thác Bà” trong Chương trình “Du lịch về cội nguồn” phối hợp ba tỉnh Yên Bái - Phú Thọ - Lào Cai, các thành công của việc nghiên cứu, trồng cây phủ vùng bán ngập…, thực tế nơi đây chưa thể hiện nét nổi bật và còn hạn chế về các loại hình dịch vụ cũng như cơ sở hạ tầng.
 Khu du lịch Tân Hương
Khu du lịch Tân Hương tại hồ Thác Bà – Ảnh: Thiên Cầm (nguồn baoyenbai.com.vn)
Nhận rõ điểm yếu cơ bản, hiện tỉnh Yên Bái đang triển khai xây dựng khu du lịch trung tâm hồ Thác Bà với tổng diện tích quy hoạch 206ha, bao gồm các khu chức năng như trung tâm đón tiếp - điều hành, khu vui chơi giải trí, khu khách sạn - dịch vụ - thương mại, khu nghỉ sinh thái, khu tháp viễn thông và thể thao mạo hiểm… Hy vọng trong tương lai gần, hồ Thác Bà sẽ trở thành điểm đến xứng tầm, đáp ứng niềm kỳ vọng của du khách yêu mến cảnh quan thiên nhiên, sông nước hữu tình giữa núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, nên thơ…