THỜI TRANG

CHIA SẺ

KHÁM PHÁ

SỨC KHỎE

GÓC TRÁI TIM

XÃ HỘI

NHỊP SỐNG TRẺ

BÀI VIẾT MỚI

12 CHÒM SAO

TÔI NHỚ

TÔI YÊU

TÔI TÂM SỰ

TÔI HẠNH PHÚC

BÀI MỚI NHẤT

TIN ẢNH

TIN SHOWBIZ

LÀM ĐẸP

Hiển thị các bài đăng có nhãn Vĩnh Phúc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vĩnh Phúc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2015

Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên (Vĩnh Phúc)

Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên và một số cơ sở Phật giáo khác không chỉ lo việc tọa thiền, tụng kinh, niệm Phật hàng ngày, mà còn mở các lớp dạy tu Thiền, đang thầm lặng góp phần vào sự nghiệp rèn luyện, giáo dục thế hệ trẻ cho nước nhà. Việc làm “Tốt đời, đẹp đạo” này là một nét nhân văn đáng quý, đáng trân trọng.

Trong những ngày nắng hè cháy bỏng ở Hà Nội, tôi có cơ may tạm lánh xa mọi ồn ào, bức bối nơi đô thị, gác lại những bộn bề công việc để hành hương về miền đất Phật Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên thuộc Trung tâm Văn hóa - Lễ hội tỉnh Vĩnh Phúc, một trong những ngôi Thiền viện lớn nhất Việt Nam để được đắm mình trong không gian yên tĩnh, tôn nghiêm với không khí trong lành, gió núi mát mẻ và bạt ngàn màu xanh cây cỏ…
 
Chẳng phải đi đâu xa, sau hơn một giờ đồng hồ ngồi ô tô đi theo đường cao tốc Nội Bài- Lào Cai mới mở, rồi rẽ vào đường đi Vĩnh Yên-Tam Đảo chỉ khoảng hơn 60 cây số là tới Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên. Thiền viện thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, tọa lạc trên một quả đồi ở lưng chừng núi Tam Đảo thuộc thôn Đền Thỏng xã Đại Đình, huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc, có độ cao khoảng 300m so với mặt nước biển.

Tới miền đất Phật này, được lễ Phật, lễ Tổ và vãn cảnh Thiền viện tôi tin chắc mọi người đều cảm thấy tâm hồn thanh thản và quên đi mọi mệt mỏi, vất vả, âu lo thế tục.

Nhờ duyên lành, tôi  được diện kiến Thượng tọa Thích Kiến Nguyệt viện chủ trụ trì Thiền viện. Qua câu chuyện của Thượng tọa, tôi được biết Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên được khởi công xây dựng ngày 04/04/2004 trên nền một ngôi Chùa cổ có tên là Thiên Ân Thiền Tự, là một trong 3 ngôi Chùa cổ có từ thời vua Hùng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên (Thiên Ân Thiền Tự, Thiên Quang Thiền Tự và Hoa Long Thiền Tự).

Thiền viện có tòa Đại Hùng Bửu Điện-là tòa chính điện nằm ở trung tâm cao 17m, diện tích 675m2, có sức chứa 600 người, đủ chỗ cho phật tử và du khách thập phương ngồi thiền hoặc nghe giảng về Phật pháp. Tòa chính điện thờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở chính giữa, Bồ Tát Phổ Hiền (cưỡi voi) và Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (cưỡi hổ) ở hai bên. Tòa chính điện có 4 cột đá lớn treo các câu đối:

-Phật pháp chỉ đường lìa mê về bến giác/Thiền tông không lối trực ngộ đến chân như
-Phước đức sâu dầy do gieo nhân đạt quả/Tuệ giác tròn đầy bởi bát giác gội nhuần
 
Bên phải chính điện là Lầu Trống. Thân trống làm bằng 1 khối gỗ mít rừng Gia Lai có đường kính 1,3m, dài 2m. Bên trái là Lầu Chuông. Chuông Đại Hồng Chung nặng 2 tấn được đúc từ một làng nghề truyền thống nổi tiếng ở Huế. Trên mặt chuông có khắc bài thơ của Thiền Sư Viên Học (1073-1136):

Lục thức thường hồn chung dạ khổ
Vô minh bị phủ cửu mê dung
Chú dạ văn chung khai giác ngộ
Lãn thần tịnh sát đắc thần thông

Dịch là:  

Sáu thức tối tăm khổ đêm dài 
Vô minh che đậy mãi mê say
Sớm tối nghe chuông lòng tỉnh giác
Thần lười dứt sạch, được thần thông 

Phía sau chính điện có Nhà Tổ thờ 4 vị Tổ của Thiền phái Trúc Lâm là: Tổ sư Khương Tăng Hội là vị Tổ đầu tiên của Thiền tông Việt Nam và 3 vị Tổ là Sơ tổ Trúc Lâm (tức Phật hoàng Trần Nhân Tông), Thiền sư Pháp Loa và Thiền sư Huyền Quang. Nhà Tổ cũng có các câu đối:

-Tổ tổ truyền đăng phát huy tâm ấn Phật/Tăng tăng tục diện lưu biến chính tông thiền
-Tây Thiên khởi nguồn Phật kiếp kiếp truyền đăng tục diện mãi truyền hằng / Yên Tử mở lối thiền đời đời đức hóa lưu phương luân chuyển khắp

Các câu đối ở Chính điện, Nhà Tổ và bài thơ khắc trên chuông Đại Hồng Chung đều thấm đẫm giáo lý nhà Phật và Thiền tông. 

Tượng Phật và các tượng Tổ được làm từ đá Sa thạch là một loại đá quý có độ bền lâu dài mà người Chăm và người Ai Cập xưa thường dùng để tạc tượng. Tượng Phật Thích Ca được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục là tượng Phật sa thạch lớn nhất Việt Nam.

Hành hương chiêm bái Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, tôi ấn tượng nhất hai việc sau đây:

- Trong những năm gần đây, cứ mỗi dịp nghỉ hè, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên lại là “điểm đến” học tu Thiền và Phật pháp. Đại đức Thích Thanh Trí - Phó trụ trì Thiền viện kiêm giáo thọ sư cho biết: Thiền viện mở các lớp học tu Thiền từ năm 2010 đến nay, mỗi năm mở 6 khóa học vào dịp hè, mỗi khóa tiếp nhận khoảng 250 học sinh tuổi từ 14 đến 17-18 (nam-nữ học riêng).
 
Chiêm bái Thiền viện, ngoài việc được lễ Phật, lễ Tổ…, tôi còn được chứng kiến cảnh các thiền sinh xếp hàng ngay ngắn ngoài sân theo thứ tự vào Trai đường thọ trai các buổi sáng-trưa-chiều, được dự các buổi học giáo lý, tập tu Thiền và sinh hoạt tập thể của thiền sinh, tôi thấy Thiền viện như một trường học vậy. Chỉ khác là trường học dạy chữ-dạy người, còn Thiền viện dạy Thiền-dạy người. Các thầy đã vận dụng giáo lý nhà Phật khi giảng về quy luật nhân quả của đức Phật, về chữ Tâm, chữ Nhẫn, chữ Hiếu…để bồi dưỡng đạo đức, nhân cách, rèn luyện kỹ năng sống cho thế hệ trẻ, hướng tuổi trẻ đến với chân-thiện-mỹ.

Trước khi thọ trai buổi sáng, các thầy đều hướng dẫn thiền sinh ngồi yên lặng     niệm Phật Bổn Sư Thích Ca, rồi đọc Tam đề và Ngũ quán. Khi tôi hỏi, Đại đức Thích Trúc Thông Văn - Phó trụ trì Thiền viện giải thích theo giáo lý nhà Phật thì Tam đề là tự tâm mình khởi lên 3 điều: 1-Nguyện dứt các điều ác. 2-Nguyện làm các việc lành. 3-Nguyện độ tất cả chúng sinh. Ngày nào thiền sinh cũng khởi lên 3 điều này để tạo thói quen phải làm những việc tốt đẹp cho bản thân, gia đình và xã hội. Có được nhận thức như vậy rồi sẽ chuyển sang đọc Ngũ quán để thấu rõ mọi bản chất của sự vật. Đó là: 1-Quán (thấy rõ) thức ăn này từ đâu mà có, công của người làm ra hạt gạo, mua được hạt gạo khó nhọc biết bao nhiêu. 2-Quán công đức của mình đủ hay thiếu để được thọ dụng thức ăn này. 3-Quán thức ăn này cốt để dẹp sạch tham-sân-si. 4-Quán thức ăn này như thuốc uống để trị bệnh cho thân thể mình (chứ không phải cốt để ăn ngon). 5-Quán vì thành đạo nghiệp nên mới thọ dụng thức ăn này. 

Đại đức còn cho biết: “Phép Thiền của đạo Phật chuyển hóa được thân-tâm, làm cho con người có được trí tuệ và lòng thương yêu (đạo Phật gọi là từ bi). Con người phát triển được trí tuệ và lòng thương yêu là có được nhân cách hoàn hảo nhất”; “Nhà trường của ta hiện nay có dạy đạo đức cho học sinh, nhưng đó chỉ là cái “vỏ” bề ngoài. Nhật Bản và Thái Lan người ta đã đưa Thiền vào dạy ở các trường học”. 
Khi tôi hỏi về chữ Tâm trong đạo Phật, thầy Thích Thanh Trí nói: “Phật ở trong tâm, tập thiền để có tâm Phật, tu thiền để tâm an lành-thanh tịnh, từ đó mới có trí tuệ gọi là trí vô sư. Ngay cả việc bố thí-cúng dường cũng phải bằng Tâm thanh tịnh. Bố thí có ghi tên người cho là bố thí hữu tướng (hàm ý người bố thí vẫn muốn có danh tiếng) thì công đức chỉ có hạn. Bố thí vô tướng (không nêu danh tính) là bố thí bằng Tâm thanh tịnh, trong đạo Phật gọi là bố thí vô ngã, bố thí Ba la mật thì công đức vô biên, vô lượng”.

Các thầy ở Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên và một số cơ sở Phật giáo khác không chỉ lo việc tọa thiền, tụng kinh, niệm Phật hàng ngày, mà còn mở các lớp dạy tu Thiền, đang thầm lặng góp phần vào sự nghiệp rèn luyện, giáo dục thế hệ trẻ cho nước nhà. Việc làm “Tốt đời, đẹp đạo” này là một nét nhân văn đáng quý, đáng trân trọng.

-Việc thứ hai khi về đất Phật Tây Thiên, tôi cũng rất ấn tượng với Dự án công trình xây dựng Đại tượng Phật Quốc Thái-Dân An-Phật Đài bằng đá khối Hoa cương cao 49m gồm 28.100 viên đá có trọng lượng 35.292 tấn. Riêng đầu tượng Phật cao 16m (bằng chiều cao tòa nhà 5 tầng). Đây là Dự án do Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên làm chủ đầu tư, kinh phí lúc đầu dự kiến dựa vào xã hội hóa. Hiện nay mới xây xong  bệ đặt tượng, do sự phát tâm công đức, cúng dường bằng tiền mặt, bằng trí tuệ tư vấn thiết kế, công sức khảo sát trắc địa, tổ chức thi công v..v..của nhiều nhà hảo tâm là tăng ni Phật tử, đồng bào trong nước, kiều bào ở nước ngoài, các nhà khoa học (trong đó có GS.TSKH-KTS Hoàng Đạo Kính), các kiến trúc sư, họa sĩ, điêu khắc gia, doanh nhân, doanh nghiệp, thợ thủ công và công nhân xây dựng.

Thượng tọa Thích Kiến Nguyệt cho biết: Theo tính toán của trường Đại học xây dựng thì kinh phí làm tượng Phật bằng đá bán quý là khoảng 400 tỷ đồng. Nếu tượng làm trong 4 năm hoàn thành thì mỗi năm phải chi 100 tỷ, số tiền này khó huy động được ở thời điểm suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay. 

Để công trình có thể thực hiện đúng tiến độ dự kiến là 4 năm, Thiền viện đang làm đơn xin Nhà nước và các Cơ quan Ban Ngành chức năng cho phép khai thác mỏ đá ở Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái để cung cấp toàn bộ đá cho công trình. 

Như vậy khi Nhà nước cho phép sử dụng tài nguyên Quốc gia để xây dựng công trình cho Quốc gia, và toàn dân công đức phần bê tông, chế tác (trị giá khoảng 200 tỷ). Công trình Quốc Thái-Dân An-Phật Đài sẽ thể hiện tinh thần Nhà nước và toàn dân Việt Nam hôm nay đoàn kết quyết tâm xây dựng để nguyện cầu cho đất nước thoát khỏi hiểm họa chiến tranh. Bằng tâm lực, trí lực tôn tạo tượng đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni với tâm thành của toàn dân cầu nguyện cho đất nước được hòa bình, Tam Bảo sẽ chứng minh và gia hộ cho sở cầu sở nguyện lành của chúng ta sớm được thành đạt như ý nguyện. Quốc Thái-Dân An-Phật Đài được xây dựng bằng đá Hoa cương ở bên ngoài, phần nội thất bên trong làm bằng đá bán quý (đá Vân, đá Cẩm thạch) hấp thụ hồn thiêng sông núi và linh khí Việt Nam hàng triệu năm trong lòng đất, sẽ phát năng lượng rất lớn, lại do nghệ nhân Việt Nam chế tác-xứng đáng là “Bảo vật Quốc gia” mang ý nghĩa “Quốc hồn, Quốc túy Việt Nam”.

Quả vậy, Đại tượng Phật được hoàn thành sẽ là một kỳ công, kỳ tích, kỳ vĩ của toàn  dân hôm nay trao tặng lại cho con cháu các thế hệ mai sau. Khi mọi người hành hương về Thiền viện lễ Phật để nguyện cầu cho gia đình được bình an, đất nước được thái bình, thụ  hưởng nguồn năng lượng an lành từ đức Phật sẽ đưa đến quả phúc “Quốc Thái-Dân An”.       

Vũ Tất Tiến/Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 5 năm 2014

Khu Du Lịch Tam Đảo (Vĩnh Phúc)

Thiên nhiên ban tặng cho Tam Đảo một món quà vô giá, đó là nền khí hậu đặc trưng mà không nhiều địa danh trên đất nước Việt Nam có được. Khái niệm Khu nghỉ mát (KNM) có lẽ bắt đầu hình thành từ đầu thế kỷ XIX - thời điểm người Pháp phát hiện và xây dựng hơn 100 toà nhà, biệt thự cao cấp với nhiều kiểu kiến trúc khác nhau, có đủ các loại hình vui chơi giải trì thời bấy giờ: Sân quần vợt, phòng chiếu bong, bể bơi, công viên, vườn hoa, cây cảnh… phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng, du lịch của quan chức cai trị người Pháp và tầng lớp giàu có thời bấy giờ. Tam Đảo được biết đến là khu nghỉ mát, điều dưỡng và thắng cảnh nổi tiếng miến Bắc Việt Nam thời Pháp thuộc.


Năm 1997, sau khi tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập, khu du lịch Tam Đảo được tái quy hoạch để trở thành một trọng điểm du lịch của tỉnh – nơi thu hút một lượng khách lớn đến Vĩnh Phúc với nhiều loại hình du lịch: Du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch rèn luyện thể thao, du lịch nghiên cứu, du lịch tâm linh…

Tam Đảo được mọi người biết đến là Khu Du lịch nổi tiếng không chỉ với du khách trong nước. Đặc biệt là thời điểm mùa hè - khi mà nền nhiệt vùng đồng bằng khiến con người muốn tìm đến một không gian mát lành để nghỉ ngơi thì Tam Đảo là sự lựa chọn lý tưởng. Đến đây du khách sẽ cảm nhận được bốn mùa trong một ngày: Buổi sáng se se gió xuân, buổi trưa nắng mùa hạ, buổi chiều heo may mùa thu, buổi tối lạnh giá mùa đông; thưởng thức những món ăn đặc sản của dân tộc, món ăn dân giã của địa phương; nghỉ ngơi trong những phòng khách sạn có vị trí và tầm nhìn đẹp mắt, thảnh thơi trong khung cảnh thiên nhiên trên những con đường dạo bộ, khung cảnh vừa thơ mộng vừa hung vĩ, vừa huyền ảo với sương, gió, mây trời như đan quyện vào nhau.

Có những địa danh mà khi nói đến du lịch Tam Đảo du khách không thể không nghĩ đến, là nhân tố không thể thiếu trong chuyến hành trình khám phá, nghỉ ngơi tại đây.

Thác Bạc - Tam Đảo

Đó là dòng thác Bạc trong vắt, nước chảy bốn mùa.Vào thời điểm mùa hè, du khách lên Tam Đảo không thể bỏ qua những khoảng khắc đắm mình dưới dòng thác Bạc - là một trong những điểm tham quan lý thú. Rẽ theo con đường mòn, hút xuống thung lũng sâu, thác Bạc do suối Mơ, suối Bạc và suối Tiên đổ vào. Thác giấu mình trong núi, bí ẩn đổ xuống dòng nước trắng bạc lóng lánh ánh mặt trời phản chiếu sắc cầu vồng. Một dòng suối nhỏ từ trên cao 30m ào ào tuôn nước trắng xoá như một dải bạc.

Với những ai đam mê khám phá hệ sinh thái đa dạng của thiên nhiên thì Vườn quốc gia Tam Đảo là địa điểm không thể bỏ qua. Đó là một kho tàng, tài sản quý của quốc gia, là kho dự trữ các nguồn gen động thực vật quý của Việt Nam. Đồng thời có giá trị to lớn trong bảo vệ môi trường, điều tiết và cung cấp nước, phục vụ nghiên cứu khoa học…

Tháp truyền hình

Có một nơi mà nếu đến Tam Đảo du khách ai cũng muốn một lần được tự sức khám phá, được tận mắt nhìn thấy, nhất là đối với các bạn trẻ, đó là chinh phục tháp truyền hình Tam Đảo. Riêng việc được nghe kể về quá trình xây tháp đã là một chi tiết thú vị. Để xây dựng thành công, các kỹ sư và chuyên gia trong nước cũng như nước ngoài đã phải nghiên cứu một cách rất công phu từng chi tiết nhỏ: Từ chọn vị trí ở một nơi cao như vậy có đảm bảo sự vững chắc, lắp thế nào khi tầng trên cùng của tháp thò ra vực sâu, phương án dựng tháp bằng hình thức nào (kéo cẩu hay là đẩy), đặt máy ra sao để có sức đẩy một khối lượng nặng mấy trăm tấn…Và sau bao vất vả, tính đi tính lại việc xây tháp đã hoàn thành, hiện ngọn tháp cao hơn 100m này đang tồn tại trên đỉnh núi cao 1200m.

Để lên được tháp, du khách phải leo 1394 bậc đá dốc thoai thoải, tuy không cách trở như đường lên Yên Tử hay chùa Hương nhưng cũng là một hành trình thú vị. Đường lên được bao bọc bởi cây cối hai bên. Người leo tháp vừa đi vừa nghỉ và hít thở không khí trong lành, nói chuyện cho quên đi cái mệt và nghe những âm thanh từ tiềng gió, tiếng chim hót vọng ra từ rừng.

Lên đến nơi, một khung cảnh hiện ra thật tuyệt vời, đứng trên tầm cao phóng tầm mắt ra xa con người như đang đứng ở một vị trí có thể chinh phục được toàn bộ thiên nhiên xung quanh mình, nhìn xuống thấy mọi vật đều bé xíu, thích nhất là ở trên độ cao này những giàn susu lên mập mạp và non tua tủa rất thích mắt như một biểu trưng cho sức chịu đựng mãnh liệt của những cán bộ sống và làm việc tại đây. Sau những phút thư thái trên cao, đường xuống có vẻ nhẹ nhàng hơn nhiều, gần 1400 bậc đá giờ chỉ là một hành trình vừa đi vừa nghỉ ngơi và suy ngẫm về một cuộc “dã ngoại” hết sức bổ ích.

Đền Bà chúa Thượng ngàn

Không thể quên một Tam Đảo với những điểm du lịch tâm linh ẩn mình trong thiên nhiên: Đền Bà chúa Thượng ngàn, đền Trần để du khách có những giây phút lắng đọng tâm hồn. Trong không gian yên bình giữa lòng mẹ thiên nhiên, còn gì tuyệt vời hơn khi chúng ta được tham quan, tĩnh tại cầu mong điều tốt đẹp đến với mình trong cuộc sống
Khu Du lịch Tam Đảo còn được biết đến là địa danh gắn vời nhiều di tích lịch sử vô giá của dân tộc:

Nhà thờ Tam Đảo

Nhà thờ Tam Đảo: Được xây dựng từ năm 1906, nhà sàn lợp lá. Đến năm 1937 xây lại to đẹp, kiên cố với vật liệu đá, gạch. Ngôi thánh đường xây dựng theo kiến trúc kiểu Gothic, nổi trên nền rừng thông xanh ngắt trên sườn núi Nhà Thờ. Trong kháng chiến chống Pháp, thực hiện chính sách tiêu thổ kháng chiến của cách mạng Việt Nam, nhân dân đã di tản khỏi thị trấn, mọi biệt thự đều bị phá hủy; riêng nhà thờ được Bác Hồ chỉ thị phải giữ nguyên vẹn, không được xâm phạm vào tín ngưỡng của dân... nhờ vậy giữ được một kiến trúc đậm nét văn hóa. Từ năm 1954, chính quyền trưng dụng nhà thờ vào việc công. Ngày 02 - 9 -2008, lần đầu tiên nhà thờ cổ Tam Đảo chính thức tổ chức buổi dâng lễ tạ ơn, với hơn 2.000 giáo dân tham dự.

Ngày nay, đứng ở thung lũng Tam Đảo, bất cứ nơi nào cũng nhìn thấy nhà thờ đá như một người trầm mặc in hình giữa rừng thông vi vút lá gió trên sườn núi. Nhà thờ có một khoảng sân khá rộng. Khoảng sân này một mặt dài theo hông nhà thờ, mặt kia nằm “chon von” phía đường lộ. Để đảm bảo an toàn cho tín hữu, phía đường lộ được xây dựng một vòm cửa bằng đá xanh. Vòm cửa nào cũng có hình bán nguyệt, có mặt bằng để khách ngồi nhìn ngắm thị trấn bên dưới - có thể xem là một tác phẩm mỹ thuật làm tôn vẻ đẹp vốn có của nhà thờ.

Với những nét đặc trưng quý hiếm đó, nhà thờ đá cổ là một điểm tham quan lý thú, thu hút bất cứ vị khách nào khi đến nghỉ ngơi tại Tam Đảo. Đến tham quan nhà thờ bất cứ thời điểm nào trong ngày, khách cũng đều thấy vẻ đẹp của nó, mỗi tiết trời một vẻ đẹp khác nhau.

Nhà Rông - Tam Đảo

Hệ thống hầm trú ẩn nằm trên dãy núi Tam Đảo: Những năm đầu  thập kỷ 60 của thế kỷ 20, khi mà đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc lần thứ nhất, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã chọn Tam Đảo để xây dựng hệ thống hầm hào trú ẩn. Thứ nhất vì Tam Đảo ở vị tri gần thủ đô Hà Nội, hai là có khí hậu mát mẻ, có núi rừng hiểm trở che chắn, vì thế địch khó phát hiện. Mục đích của việc xây dựng hầm trú ẩn là để đảm bảo an toàn tính mạng cho các đồng chí trong Bộ Chính trị, khi bị địch bắn phá bằng hoả lực hoặc dùng máy bay oanh tạc. Hệ thống hầm trú ẩn và hai nhà nghỉ của Trung ương được triển khai xây dựng và hoàn thành ngay trong năm 1965, do trung đoàn 600, Bộ Tư lệnh Công binh thiết kế và xây dựng gồm có 5 hầm:

Hầm số 1 tại khu nhà nghỉ biệt thự 18A, do Ban Quản trị Kinh tế, Văn phòng Trung ương Đảng quản lý. Nhà nghỉ rộng 600m2 , là nơi làm việc, nghỉ ngơi tĩnh dưỡng của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cả trong những năm kháng chiến chống Mỹ cũng như những năm đất nước hoà bình.

Hầm số 2, tại nhà nghỉ biệt thự Trung ương 18B, do Ban Quản trị Kinh tế, Văn phòng Trung ương Đảng quản lý.  Sinh thời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng thường xuyên về đây làm việc, nghỉ ngơi tĩnh dưỡng cho đến những ngày cuối đời. Cố Tổng Bí thư Trường Trinh cũng đã nhiều lần về đây nghỉ ngơi.

Hầm số 3 là hầm nhà Rông: Tại hầm này cuối năm 1967 Bác Hồ đã về đây nghỉ và làm việc một thời gian ngắn. Hầm này được thiết kế hình cánh cung, ngay sát mép đường, nằm cạnh sườn núi, có một cửa vào và một cửa thoát hiểm, đường hầm dài 26m, rộng 0,9m , cao 2m, được xây kè bằng đá dày 1m, trên nóc hầm kè lớp đá dày 7- 8m.

Hầm số 4: Nằm giữa phía sau của khách sạn Ngôi Sao. Cũng như các hầm khác có một cửa vào và một cửa thoát hiểm. Đường hầm dài 28m, rộng 0,9m, cao 2m, xây bằng đá dày 1m, hầm này được thiết kế hình chữ chi đi lại lắt néo, bí mật, phía trên nóc hầm kè một lớp đá dày 7 - 8m.

Hầm số 5 (cạnh nhà nghỉ Công đoàn cũ) có hai cửa, một cửa vào và một cửa thoát hiểm, đường hầm được thiết kế hình chữ Z, dài 26 mét, rộng 0,9m, cao 2m, trên nóc hầm được phủ một lớp đá dày từ 7 - 8m.

Cả 5 hầm trú ẩn trên tuy được thiết kế ở 5 địa điểm khác nhau, nhưng kết cấu, kiến trúc, kích thước gần giống nhau, tạo thành một thế trận phòng thủ vững chắc liên hoàn, nằm tại trung tâm thị trấn Tam Đảo hàm chứa nhiều ý nghĩa lịch sử.

Hệ thống hầm trú ẩn nằm trên dãy núi Tam Đảo trong những năm kháng chiến chống Mỹ là một nơi trú ẩn an toàn bí mật, đã che trở, bao bọc cho các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Bên cạnh hệ thống hầm trú ẩn, còn có hai biệt thự nhà nghỉ Trung ương 18A và 18B, các đồng chí Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Trần Đức Lương, Nông Đức Mạnh... đã nhiều lần về đây làm việc và nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng. Vì vậy có thể khẳng định hệ thống hầm trú ẩn của Bộ Chính trị nằm trên đỉnh núi Tam Đảo là một chứng tích lịch sử, một địa bàn kháng chiến trong lòng đất.

Biệt thự 18A

Biệt thự 18B

Tỉnh Vĩnh Phúc đã có chủ trương khôi phục lại hệ thống hầm này, bên cạnh ý  phục vụ mục đích quân sự, vào những thời điểm nhất định có thể sẽ phục vụ khách tham quan. Với những du khách yêu thích sự khám phá, tìm về những dấu tích lịch sử dân tộc, trài nghiệm một phần cuộc sống cha ông thời kháng chiến thì đây là sự lựa chọn thú vị nhất.

Hơn một trăm năm hình thành và phát triển, một chặng đường đủ dài để suy ngẫm về một Tam Đảo những gì đã qua và những gì đang tới. Từ một ý đồ thành một trạm nghỉ dưỡng, Tam Đảo hôm nay đã tự khẳng định để trở thành một khu du lịch nổi tiếng của Vĩnh Phúc gắn với những điểm di tích lịch sử, văn hoá có giá trị và thiên nhiên kỳ thú. Tam Đảo đang cần đầu tư nhiều hơn thế để Tam Đảo tương lai sẽ là một trung tâm du lịch - nghỉ dưỡng và văn hóa có tầm cỡ quốc tế./.