THỜI TRANG

CHIA SẺ

KHÁM PHÁ

SỨC KHỎE

GÓC TRÁI TIM

XÃ HỘI

NHỊP SỐNG TRẺ

BÀI VIẾT MỚI

12 CHÒM SAO

TÔI NHỚ

TÔI YÊU

TÔI TÂM SỰ

TÔI HẠNH PHÚC

BÀI MỚI NHẤT

TIN ẢNH

TIN SHOWBIZ

LÀM ĐẸP

Hiển thị các bài đăng có nhãn Phú Thọ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phú Thọ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

Đền Hùng (Phú Thọ)

Đền Hùng là tên gọi khái quát quần thể đền chùa thờ phụng các Vua Hùng và tôn thất của nhà vua trên núi Nghĩa Lĩnh, gắn với lễ hội Đền Hùng được tổ chức tại địa điểm đó hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Hiện nay, theo các tài liệu khoa học đã công bố đa số đều thống nhất nền móng kiến trúc đền Hùng bắt đầu được xây dựng từ thời vua Đinh Tiên Hoàng trị vì. Đến thờiHậu Lê (thế kỷ 15) được xây dựng hoàn chỉnh theo quy mô như hiện tại.

Vị trí

Quần thể di tích đền Hùng nằm từ chân núi đến đỉnh ngọn núi Nghĩa Lĩnh cao 175 mét (núi có những tên gọi như Núi Cả, Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Hy Cương, Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn), thuộc địa phận xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, trong khu rừng được bảo vệ nghiêm ngặt giáp giới với những xã thuộc huyện Lâm Thao, Phù Ninh và vùng ngoại ô thành phố Việt Trì, cách trung tâm thành phố Việt Trì khoảng 10 km. Khu vực đền Hùng ngày nay nằm trong địa phận của kinh đô Phong Châu của quốc gia Văn Lang cổ xưa. Theo cuốn Ngọc phả Hùng Vương, đương thời các Vua Hùng đã cho xây dựng điện Kính Thiên tại khu vực núi Nghĩa Lĩnh này.

Quá trình phát triển

Đền Hùng được Bộ Văn hóa thông tin xếp hạng là khu di tích đặc biệt của quốc gia vào năm 1962. Đến năm 1967, Chính phủ Việt Nam đã quyết định khoanh vùng xây dựng khu rừng cấm Đền Hùng. Ngày 8 tháng 2 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt dự án quy hoạch tổng thể Khu di tích lịch sử Đền Hùng lần thứ nhất, tạo tiền đề cho việc đầu tư xây dựng nhiều công trình hạng mục trong khu di tích

Ngày 6 tháng 1 năm 2001, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 82/2001/NĐ-CP, quy định về quy mô, nghi lễ tổ chức giỗ Tổ Hùng Vương và lễ hội Đền Hùng hàng năm. Ngày 10 tháng 3 trở thành ngày quốc lễ, ngày giỗ Tổ Hùng Vương
Khu di tích lịch sử Đền Hùng đã không ngừng lớn mạnh, được thể hiện sâu sắc và rõ nét hơn qua hàng loạt công trình kiến trúc văn hóa đầu tư xây dựng. Nổi bật nhất là từ sau Quyết định số 84/2004/QĐ-TTg ngày 30 tháng 3 năm2004 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển Khu di tích lịch sử Đền Hùng đến năm 2015[4].
Nhiều công trình tiếp tục được xây dựng tại khu di tích Đền Hùng như Đền thờ Lạc Long Quân, đường hành lễ tại trung tâm lễ hội, trụ sở làm việc và nhà tiếp đón khách của khu di tích, đài tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ...Trước sự phát triển và quy mô ngày càng lớn, đòi hỏi phải có một bộ máy quản lý tương xứng. Ngày 23 tháng 2 năm 2005, UBND tỉnh Phú Thọ đã ban hành Quyết định số 525/2005/QĐ-UB về việc nâng cấp Ban quản lý Khu di tích Đền Hùng thuộc Sở Văn hóa thông tin Phú Thọ thành Khu di tích lịch sử Đền Hùng trực thuộc UBND tỉnh[4].
Ngày 6 tháng 12 năm 2012, UNESCO công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại với những yếu tố thuộc đời sống tâm linh của người Việt Nam đã tồn tại từ hàng nghìn năm nay, thể hiện nền tảng tinh thần đại đoàn kết dân tộc và gắn kết cộng đồng. Tính độc đáo của tín ngưỡng này thể hiện rất rõ ở yếu tố thờ Hùng Vương chính là thờ Quốc tổ. Đây là hiện tượng văn hóa không phải dân tộc nào cũng có.

Đặc điểm

Các di tích chính

  1. Đền Hạ: Tương truyền là nơi Âu Cơ... sinh hạ bọc trăm trứng, sau nở thành 100 người con.
  2. Nhà bia: Nhà bia nằm ngay cạnh đền Hạ có kiến trúc hình lục giác với 6 mái. Trong nay đặt tấm bia đá khắc dòng chữ quốc ngữ: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Đây là câu nói nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm Đền Hùng ngày 19 tháng 9 năm 1954.
  3. Chùa Thiên Quang: còn gọi là Thiên quang thiền tự, tọa lạc gần đền Hạ.
  4. Đền Trung: Tương truyền là nơi các Vua Hùng cùng các Lạc hầu, Lạc tướng du ngoạn Nghĩa Lĩnh ngắm cảnh và họp bàn việc nước.
  5. Đền Thượng: Đền được đặt trên đỉnh núi, nơi ngày xưa theo truyền thuyết các Vua Hùng thường lên tiến hành các nghi lễ, tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp thờ trời đất, thờ thần lúa, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhân khang vật thịnh. Ngoài cổng đền có dòng đại tự: "Nam Việt triệu tổ" (tổ tiên của Việt Nam).
  6. Cột đá thề: Bên phía tay trái đền Thượng có một cột đá gọi là cột đá thề, tương truyền do Thục Phán dựng lên khi được Vua Hùng thứ 18 truyền ngôi để thề nguyện bảo vệ non sông đất nước mà Hùng Vương trao lại và đời đời hương khói trông nom miếu vũ họ Vương.
  7. Lăng Hùng Vương (Hùng Vương lăng) tương truyền là mộ của Vua Hùng thứ 6. Lăng mộ nằm ở phía đông đền Thượng, mặt quay theo hướng Đông Nam. Xưa đây là một mộ đất, thời Tự Đức năm thứ 27 (năm 1870) đã cho xây mộ dựng lăng. Thời Khải Định tháng 7 (năm 1922) trùng tu lại.
  8. Đền Giếng: Tương truyền là nơi công chúa Tiên Dung và công chúa Ngọc Hoa (con gái của Vua Hùng thứ 18) thường soi gương, vấn tóc khi theo cha đi kinh lý qua vùng này. Đền được xây dựng vào thế kỷ thứ 18.
  9. Đền Tổ mẫu Âu Cơ: Là một ngôi đền mới, được bắt đầu xây dựng vào năm 2001 và khánh thành tháng 12 năm 2004. Đền được xây dựng trên núi Ốc Sơn (núi Vặn).

Hành trình của du khách

Khu di tích lịch sử đền Hùng bao gồm bốn đền chính là đền Hạ, đền Trung, đền Thượng và đền Giếng. Từ những bậc đầu tiên dưới chân núi, du khách sẽ qua cánh cổng, bước nhiều bậc đá lên thắp hương và thăm thú các đền, kết thúc tại đền Thượng trên đỉnh Nghĩa Lĩnh, nơi có lăng mộ vua Hùng thứ 6.

Lễ hội đền Hùng

Văn học dân gian Việt Nam nói về lễ hội đền Hùng như sau:
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba
Lễ hội đền Hùng còn gọi là Giỗ tổ Hùng Vương là một lễ hội lớn mang tầm vóc quốc gia ở Việt Nam, tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn công lao lập nước của các vua Hùng, những vị vua đầu tiên của dân tộc. Lễ hội diễn ra vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, tuy nhiên, lễ hội thực chất đã diễn ra từ hàng tuần trước đó với những phong tục như đâm đuống (đánh trống đồng) của dân tộc Mường, hành hương tưởng niệm các vua Hùng, và kết thúc vào ngày 10 tháng 3 âm lịch với lễ rước kiệu và dâng hương trên đền Thượng. Lễ hội đền Hùng hiện được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nâng lên thành giỗ quốc Tổ tổ chức lớn vào những năm chẵn.
Có 2 lễ được cử hành cùng thời điểm ngày chính hội:
Lễ rước kiệu vua: Đám rước kiệu với màu sắc sặc sỡ của bạt ngàn cờ, hoa, lọng, kiệu, trang phục truyền thống xuất phát từ dưới chân núi rồi lần lượt qua các đền để tới đền Thượng, nơi làm lễ dâng hương. Đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá dưới những tán lá cây để tới đỉnh núi Thiêng.
Lễ dâng hương: Người hành hương tới đền Hùng chủ yếu vì nhu cầu của đời sống tâm linh. Mỗi người đều thắp lên vài nén hương khi tới đất Tổ để nhờ làn khói thơm nói hộ những điều tâm niệm của mình với tổ tiên. Trong tâm hồn người Việt thì mỗi nắm đất, gốc cây nơi đây đều linh thiêng và chẳng có gì khó hiểu khi nhìn thấy những gốc cây, hốc đá cắm đỏ những chân hương.
Phần hội có nhiều trò chơi dân gian đặc sắc. Đó là những cuộc thi hát xoan (tức hát ghẹo), một hình thức dân ca đặc biệt của Phú Thọ, những cuộc thi vật, thi kéo co, hay thi bơi trải ở ngã ba sông Bạch Hạc, nơi các vua Hùng luyện tập các đoàn thủy binh luyện chiến.
Từ năm 2001, giỗ tổ Hùng Vương trở thành quốc lễ. Từ ngày 10/3/ 2007 âm lịch hàng năm là ngày nghỉ lễ. Lê hội đền Hùng những năm lẻ sẽ do tỉnh Phú Thọ đứng ra tổ chức. Các năm chẵn sẽ có quy mô ở các cấp trung ương. Lễ hội đền Hùng không chỉ diễn ra ở khu di tích lịch sử đền Hùng Phú Thọ mà sẽ diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước như thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đà Nẵng.v.v.
Theo nghị định 82/2001/NĐ-CP về việc quy ước lễ hội đền Hùng thì:
  • "Năm chẵn" là số năm kỷ niệm có chữ số cuối cùng là "0",Năm tròn" là số năm kỷ niệm có chữ số cuối cùng là "5 "; Trung ương, Bộ Văn hoá - thể thao và du lịch cùng Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức Lễ hội; mời đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể dự lễ dâng hương.
  • "Năm lẻ" là số năm kỷ niệm có các chữ số cuối cùng còn lại. Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức lễ hội; mời lãnh đạo Bộ Văn hoá - Thông tin dự lễ dâng hương và tổ chức các hoạt động trong lễ hội.

Thông tin thêm

Trống đồng mang tên Trống Hy Cương được tìm thấy ở xã Hy Cương ngay dưới chân núi Nghĩa Lĩnh ngày 7 tháng 8 năm 1990[5] khi một gia đình người dân đào hố tôi vôi. Trống khá nguyên vẹn, có đường kính mặt 93 cm và chiều cao 70 cm, là trống đồng Đông Sơn có kích thước lớn nhất trong tổng số trống Đông Sơn đã biết ở Việt Nam và Đông Nam Á[6]. Trống có hoa văn trang trí phong phú và cách điệu hóa cao độ, trong đó có các loại hoa văn chủ đạo như hình ngôi sao 12 cánh đường kính đến 20 cm, 8 con chim lạc dài 15 cm bay theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, hình người hóa trang cách điệu chỉ có mắt và lông công, thuyền v.v. Có thể quanh Hy Cương còn nhiều trống đồng chưa được phát hiện ra, nhưng với việc phát hiện trống lớn như một bằng chứng khảo cổ tại chân núi Nghĩa Lĩnh, cho thấy vị trí đặc biệt của Hy Cương và đền Hùng trong lịch sử dân tộc (trống lớn thường thuộc sở hữu của một vị tù trưởng hoặc thủ lĩnh rất lớn), là một trong những minh chứng khẳng định tính lịch sử của huyền thoại các vua Hùng. Trống hiện được lưu giữ trong Bảo tàng Hùng Vương với số đăng ký ĐH 2012 (theo số mới), số cũ là 1549.

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2015

Tản mạn cung đường Tây Bắc


Nếu lấy Hà Nội làm trung tâm thì cứ ngược quốc lộ 6 lên phía Tây Bắc là chúng ta sẽ đến được vùng Tây Bắc của tổ quốc, quê hương của những điệu xoè điệu khắp, nơi có rừng hoa ban nở trắng trời. 


Qua Hoà Bình, qua cái nôi của văn hoá Mường với Bi-Thang-Vàng-Động, leo gần 100 km đèo nữa là tới cao nguyên Châu Mộc, cao 800-1.000 m. Lên tới đây là bước chân vào vùng Tây Bắc.

Vùng Tây Bắc là không gian văn hóa của dân tộc Thái, nổi tiếng với điệu múa xòe tiêu biểu là điệu múa xòe hoa rất nổi tiếng được nhiều người biết đến. Ngoài ra, còn khoảng 20 dân tộc khác như H'Mông, Nùng, Tày, Pà Thẻn, Mường, Lự, Hà Nhì, Dao...v.v... nhưng Thái là dân tộc có dân số lớn nhất vùng. Ai đã từng qua Tây Bắc khó có thể quên được hình ảnh những cô gái Thái với những bộ váy áo thật rực rỡ đặc trưng cho Tây Bắc.



< Ruộng bậc thang đã trở thành “thương hiệu” có tiếng của vùng Tây Bắc bởi vẻ đẹp quyến rũ, do sức lao động, sáng tạo của đồng bào trên những sườn núi dốc này.


Thực ra đây không phải là vùng đất mà người Thái đặt chân xuống đầu tiên trong cuộc thiên di của mình. Từ thế kỷ XI, theo dòng sông Hồng (Nậm Tao), người Thái đổ bộ xuống Nghĩa Lộ (Mường Lò) rồi từ đó con cháu của Tạo Xuông, Tạo Ngần tiến dần sang các vùng Sơn La, Điện Biên, giáp Lào. Đất ấy, tên Thái là Mường Theng tức là mường trời mà ngày nay chúng ta vẫn đọc trại ra thành Mường Thanh.



< Núi rừng, con người Tây bắc làm mê hoặc lòng người.


Lên tới Mộc Châu là nghe tiếng thông reo vi vút với rừng tre rừng vầu ngút ngàn trong sắc trắng hoa ban. Phải chăng chính vì thế mà châu Mộc có tên Thái là Trảng Tre, Trảng Ban (Phiêng Xang, Phiêng Ban)? ấy là nói những năm trước đây, chứ bây giờ hoa ban còn ít lắm.

Từ cao nguyên Mộc Châu đổ xuống thung lũng Yên Châu rồi vượt qua dãy Chiềng Đông đến Nà Sản về Sơn La không thấy hoa ban. .


< Cây ban, giống như cây sim rừng, nơi nào đất núi, đất sỏi là nơi đó ban mọc và nở nhiều hoa trắng đẹp. Con trai, con gái vùng Sơn La hẹn gặp nhau vào hội chơi núi hái hoa. 

Từ Sơn La vượt hơn 30 cây số đèo Pha Đin, nơi ngăn cách giữa trời và đất, nơi bông hoa ban thấm đẫm trong từng câu dân ca Thái để đến Tuần Giáo. Cũng khó gặp hoa ban. Núi rừng hầm hập nóng trong gió Lào của đất Yên Châu, lạnh lẽo và cô quạnh trong mù sương trên đỉnh Pha Đin.


< Hoa ban là hoa của tình yêu, hoa của ước mơ trường thọ và là hoa của những con người trẻ mãi không già...

Đến lúc này, người ta mới thấy quý bóng cây ban. Hoa Ban mất đi không phải lỗi của người dân nơi đây. Người Thái bảo vệ rừng ban không chỉ vì nó là biểu tượng văn hoá của quê hương họ, mà còn vì chỉ có cây ban mới mọc được nơi đất cằn, độ dốc lớn.

Nhờ có cây ban giữ lại mùn mà đất cằn tái sinh, mà nước mưa ngấm vào lòng đất ngăn nhưng cơn lũ ống bất chợt tràn về. Cây ban không cho gỗ, cây ban đun cũng không cháy. Chỉ có bát canh hoa ban cho con trẻ được no lòng khi giáp hạt.

< Tắm tiên giữa núi rừng là nét văn hóa không thể thiếu tại vùng cao Tây bắc.

Luật và tín ngưỡng tôn giáo của người Thái trước đây quy định, bản nào cũng có hai khu rừng hoang dại mang tên rừng kiêng (đông căm) hay rừng ma (đông phi) và một khu rừng cấm chặt phá để bản tổ chức "Ngày hội hái măng" (Há nó pá hẳm).

Vì không ai dám chặt phá nên đã giữ được rừng nguyên sinh. Chẳng riêng gì người Thái, cả người Mông trên núi cao, người Khơ Mú, Kháng, La Hả... trong rừng sâu đều tự nguyện tuân theo luật Thái. Bởi đó là quyền lợi lâu dài của tất cả các dân tộc trong vùng.

Cây ban không còn, rừng cũng không còn, gió Lào như những lưỡi lửa vô hình quất vào đá núi. Chiếc khăn piêu rực rỡ không còn che đỡ nổi cái nắng lúc hạ về. Cô gái Thái bây giờ phải mang thêm cái nón của người xuôi.

Với những cô gái đã lập gia đình, đầu đã búi tóc (tẳng cẩu), đội cái nón vào trông rất ngộ. Nó mất hẳn đi sự cân đối nhưng vẫn đẹp; nó mong manh như mái nhà sàn chông chênh trên sườn núi, ai đó muốn chở che nhưng lại quá xa vời.

< Cơm lam núi rừng Tây bắc.


Ai đã từng ngược ngàn lên vùng Tây Bắc, dừng chân tại mảnh đất Điện Biên và hòa mình vào cuộc sống, phong cảnh thiên nhiên nơi đây sẽ có thêm nhiều hình ảnh, kỷ niệm đẹp trong một chuyến đi.

Nhưng đến Điện Biên mà chưa một lần ngắm nhìn những cánh rừng ngập trắng hoa ban hay đến thăm một bản dân tộc Thái, thưởng thức một món ăn truyền thống của đồng bào Thái, hòa vào hội vui cùng nắm tay múa xòe, nhảy sạp với các thiếu nữ Thái thì coi như chưa đến Điện Biên.



< Trẻ em ở Tây bắc.


Dân tộc Thái có truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán lâu đời, đặc sắc. Nằm trong hệ ngôn ngữ Tày- Thái, người Thái còn có các tên gọi khác là Táy, Hàng Tổng, Pa Thay, Thổ Đà Bắc và có hai nhóm Thái đen, Thái trắng.

Phụ nữ Thái có bộ y phục rất độc đáo với chiếc áo cóm bó sát người đính hàng cúc bướm bằng bạc, chiếc váy dài chấm gót và chiếc khăn piêu “thêu chỉ hồng” đội trên đầu.

Không cầu kỳ, rực rỡ sắc màu như một số trang phục của các dân tộc khác, bộ y phục giản dị, trang nhã đã tôn lên vẻ đẹp mặn mà, duyên dáng của các thiếu nữ Thái.


Người Tây Bắc nói chung và người Thái nói riêng sống chân thật, hoà thuận. Trong bản cũng như trong gia đình ít khi to tiếng với nhau. Đặc biệt, hiếm khi thấy bố mẹ đánh đập con cái. Sống đoàn kết và thương yêu nhau là nét chủ đạo trong cuộc sống của người Thái. Tục ngữ Thái có câu:



"Một thân không thể ngồi trên nong tự nhấc, không thể ngồi trên gốc tự nhổ" (Phủ điều báu năng đổng hak nho, báu năng to hak cốn). Cho nên khi đói kém, bản Thái và các dân tộc anh em vùng Tây Bắc sẵn sàng chia sẻ lương thực cho nhau.


Có lẽ phải tiếp cận từ góc nhìn như thế thì mới lý giải nổi sự tồn tại trong hàng chục năm của các quán hàng tự giác trên khắp các nẻo đường Tây Bắc. Hay phải chăng, đó là hệ quả của một xã hội chưa biết đến thương nghiệp với vật ngang giá là đồng tiền?


< Sau khi nhuộm vải.


Vậy thì ta nên vui hay buồn đây khi mà những quán hàng tự giác như thế ngày nay chỉ còn tìm thấy trong những câu chuyện cổ tích?

Người Thái ngày nay vẫn hiếu khách. Chẳng cần biết lạ hay quen, thân hay sơ, khách đến nhà là được ngủ ở vị trí trang trọng với chăn mới, đệm mới do chính bàn tay khéo léo của các cô gái Thái làm nên.

Là con gái Thái thì không được phép ngừng tay làm vải và phải đạt đến độ tinh xảo: "Sấp đôi tay đã thành hoa văn, ngửa bàn tay đã thành hoa lá" (Khuổm mư pên lai, hai mư pên pok). Có lẽ cũng chính vì thế mà người Thái gọi bạn trăm năm là vợ con tay guồng sợi tơ.

Gái Thái đẹp nhưng siêng năng, khéo tay nhưng hiền thục. Nhà có khách, các cô gái Thái bẽn lẽn quỳ cả buổi để tiếp rượu. Khách hoặc chủ có lỡ say thì đó cũng là cái sự quá vui mà thôi. Gần đây, một vài người có chê trách tật uống rượu say của người Tây Bắc.



Thực ra đó không phải là tập quán. Uống rượu thì có, nhưng việc say xỉn thì ngay cả người Thái cũng lên án. Bởi vậy mới có câu: "Uống rượu đừng uống say, say nhiều thành vơ vất người đời cười chê" (Kin lảu nha mau lai, mau lai pên báng pa pươn tay hua nả). Nếu cứ trách như thế thì hoá ra ta đã hiểu nhầm lòng chân thành và hiếu khách của bà con mất rồi.


Phụ nữ nhóm người Thái đen khi đã kết hôn phải búi tóc trên đầu (tiếng Thái gọi là “tằng cẩu”), còn phụ nữ Thái trắng vẫn để tóc bình thường. Cùng với sản phẩm nổi tiếng là vải thổ cẩm với hoa văn độc đáo, màu sắc lộng lẫy và đệm gối, đệm chăn hoa bông lau bền, đẹp, dân tộc Thái còn có nhiều món ăn hấp dẫn như món “lam nhọ” (thịt gia súc, gia cầm nướng nhừ), “pỉnh tộp” (cá nướng), “pa giảng” (cá hun khói)...

Xôi nếp là món ăn truyền thống của dân tộc Thái. Món xôi nếp này được người Thái xôi bằng phương pháp cách thủy rất kỹ thuật. Xôi chín bằng hơi, mềm, dẻo và được đựng bằng ép khẩu hay giỏ nan nhỏ đậy kín, ủ ấm giữ cho xôi dẻo lâu mà vẫn lưu được mùi vị thơm và ăn ngon miệng.

< Gội đầu ven suối.

Dân tộc Thái vốn yêu chuộng ca hát. Vào những ngày lễ, tết, ngày hội, ngày vui, đồng bào vẫn quây quần bên nhau múa, hát rất say sưa, nhộn nhịp.
Hình ảnh những chàng trai, cô gái Thái nắm tay nhau, cùng vui điệu múa xòe chung quanh ngọn lửa hồng hay rộn ràng trong điệu múa sạp:


< Váy Mông.


“sòn sòn sòn đô sòn, sòn sòn sòn đô rê...” đã trở nên rất gần gũi, quen thuộc và trở thành vũ điệu đặc trưng của người dân Điện Biên nói riêng, đồng bào Tây Bắc nói chung.
Ai đã có cơ hội sống ở Tây Bắc chắc sẽ không bao giờ quên dược những kỷ niệm ngọt ngào mà núi rừng cùng con người ở đây mang lạ - nhũng ấn tượng khó phai.

Chuyện làm đẹp của thiếu nữ Thái Tây Bắc

< Con gái Thái da trắng như hoa ban, uyển chuyển với những đường cong tuyệt mỹ. Con gái Thái dịu dàng, hiền thục…

Một điểm chung lớn nhất của các dân tộc Tây Bắc khi làm đẹp là rất chú ý tới mái tóc, đội khăn, quần áo và đồ trang sức.
Người con gái Thái, ngay khi còn nhỏ đã được các bà, các mẹ dạy cách thắt “xài yêu” - thắt lưng bằng vải, để lớn lên các cô gái đều có thân hình “eo kíu manh po”, thắt đáy lưng con tò vò. Chính vì vậy khi trưởng thành, các cô gái Thái đều uyển chuyển với những đường cong tuyệt mỹ.



< Điệu múa xòe không thể tiếu trong văn hóa Mông.


Chiếc “xửa cỏm”, một loại áo chẽn dài tay mặc ngoài, bó sát người, cũng góp phần không nhỏ làm nên nét đẹp của người con gái Thái, vừa tôn eo lưng thon thả, vừa vun đầy bộ ngực thanh tân.

Ngay hàng cúc áo bằng bạc hình con bướm - “mák pém” cũng có tiếng nói và ý nghĩa nhân sinh tinh tế. Một bên là hàng cúc hình bướm đực, một bên là hàng bướm cái.



< Nhổ bông về độn gối.


Con gái chưa chồng hàng cúc mang số lẻ, con gái có chồng hàng cúc mang số chẵn. Váy của con gái Thái màu đen, mặt trong gấu váy táp vải màu rực rỡ. Mỗi bước đi chân váy thấp thoáng sắc màu, lượn sóng kín đáo mà duyên thầm. Nói tới vẻ đẹp trang phục của con gái Thái không thể không nói đến chiếc khăn piêu huyền thoại, được thêu những hoa văn, họa tiết mô phỏng tinh tế thiên nhiên, với những “cút piêu”, nút thắt trang trí và “xài peng”, tua vải màu hai đầu khăn nổi tiếng.

Khăn piêu được đội hờ hững trên đầu như cánh bướm dịu dàng trên nhành xuân. Mái tóc của người con gái Thái đen nhánh, xuôn dài mềm mại. Con gái Thái đen chưa chồng tóc búi sau gáy, có chồng tóc búi đỉnh đầu, gài trâm bạc - “tằng cẩu”. Ngày đầu về nhà chồng, bà mối và mẹ chồng dùng những sợi tóc của bà, của mẹ lựa gom sau mỗi lần chải để dành cho con trai khi lấy vợ, kết cùng tóc của cô dâu. Rồi còn vòng cổ, vòng tay, xà tích bằng bạc buông lơi bên hông. Tất cả làm nên một vẻ đẹp khỏe mạnh, thanh xuân, dịu dàng ý nhị.

Người Dao ở Tây Bắc có nhiều ngành khác nhau: Dao đỏ, còn gọi là Dao Sùng, Dao đại bản; Dao quần chẹt, còn gọi là Dao Nga hoàng, Dao Sơn đầu; Dao Quần trắng, Dao Làn tuyển… Sự khác nhau giữa các nhóm Dao chủ yếu ở trang phục.

Người Dao đỏ, khăn, quần áo được thêu cầu kỳ nhiều hoa văn, họa tiết, chủ yếu là hình vết hổ - “xiền trảo miên”, hình vết mèo - “lồm trảo miên, cây vạn hoa - “thổm pẹ”, một loại cây cao quí trong quan niệm của người Dao, hoa văn cách đoạn - “thày lẩy”… các tua len trên khăn được làm bằng nhiều màu, trang trí các họa tiết hình cây thông – “xỏm pẹ” và hoa bạc.

Trên áo bé mặc trong, họa tiết chủ yếu thêu ở cổ, ngực và lưng. Trên ngực áo bé đính những hoa bạc theo chiều dọc giữa áo.

Áo dài mặc ngoài được trang trí hai hàng quả bông đỏ, mỗi bên bảy quả và các tua len nơi xẻ tà. Tà áo và đầu ống tay trang trí các hình sôm, dấu chân hổ, viền răng cưa. Dây lưng được thêu ở hai đầu các hình sôm, hình dấu chân hổ, cây thông, hình thập ngoặc và hình người mặc váy.



Quần của người Dao đỏ được thêu rất tỷ mỉ, trang trí họa tiết ở nửa dưới ống quần với các họa tiết hình vuông, chữ nhật… bằng các màu rực rỡ.


< Cô gái Dao đỏ.

Hoa văn, họa tiết trên trang phục người phụ nữ Dao đỏ thật phong phú và đa dạng, là kết tinh từ quá trình lao động sáng tạo. Lấy cảm xúc từ thiên nhiên: cỏ cây hoa lá, động vật… cách điệu và thổi hồn, góp phần làm nên một vẻ đẹp độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc.

Du lịch, GO! - Tổng hợp

Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

Kinh nghiệm du lịch Phú Thọ

  • 1
    Địa điểm vui chơi
    Điểm viếng thăm đầu tiên là khu di tích đền Hùng tọa lạc trên núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì. Đền được xây vào thế kỷ 15, tương truyền là nơi người con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên làm vua lấy hiệu Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang.

  • Đền Thượng


    Khu di tích đền Hùng là một quần thể kiến trúc gồm có đền Hạ và chùa, đền Giếng, đền Trung, đền Thượng và lăng vua Hùng. Đến đền Hùng, ngắm xem kiến trúc, thiết kế, nghệ thuật điêu khắc, bạn còn cảm nhận được vẻ đẹp của công trình hoành tráng ẩn mình dưới những cây cổ thụ to lớn hay tham quan bảo tàng Hùng Vương, nơi trưng bày nhiều hiện vật từ dựng nước... Đặc biệt, nếu có cơ hội và thời gian, bạn nên đến đền Hùng vào ngày 10/3 âm lịch hàng năm để hòa mình vào những nghi thức, tinh thần hướng về cội nguồn của một lễ hội được nâng tầm quốc lễ.

    Trái với vẻ thâm nghiêm của đền Hùng, đền Mẫu Âu Cơ mang nét thanh bình của một ngôi đến ẩn dưới một gốc đa cổ thụ, bên tả có giếng Loan, bên hữu có giếng Phượng, phía trước có núi Giác, sau lưng có sông Hồng uốn khúc.
  • Bên cạnh các di tích, đền chùa, Phú Thọ cũng được thiên nhiên ưu đãi hàng lọat thắng cảnh tuyệt đẹp. Đầu tiên là Ao Giời, Suối Tiên, nằm trên Núi Nả thuộc xã Quân Khê, huyện Hạ Hòa.

    Suối Tiên, dòng suối bắt nguồn từ núi Nả trông như dải lụa trắng bạc, vắt ngang sườn núi, nổi bật giữa màu xanh núi rừng và bầu trời. Chảy qua nhiều tầng, bậc, dòng chảy của suối tạo nên 14 con thác có độ cao khác nhau, trong đó có một số thác cao 20m, càng khiến quan cảnh hoang sơ, hùng vĩ. Cách Ao Giời - Suối Tiên khoảng 12km, đầm Ao Châu giống như đầu một con Trâu có hai sừng choãi ra hai phía sông Thao và sông Lô.
    Đến Xuân Sơn, bạn có thể chọn hòa mình vào thiên nhiên, tìm hiểu sự phát triển của các loại động thực vật quý hiếm, khám phá vẻ đẹp của các ngọn núi, mat-xa dưới những thác nước có độ cao trên 50m, trải nghiệm cảm giác phiêu lưu trong 16 hang động. Hay tham gia sinh hoạt thường ngày với người dân bản địa. Còn ở núi Thắm (núi Đầu Rồng), bạn sẽ có dịp dạo bộ quanh một cái ao nhỏ không bao giờ cạn nước trên đỉnh cũng như thu vào tầm mắt hàng trăm ngọn đồi thoai thoải nằm gần kề nhau, nhấp nhô như bát úp.

    Ngoài ra, đến Phú Thọ, bạn còn có dịp tham gia hơn 20 lễ hội khác nhau như Hội Đền Hùng, Hội Phết - Hiền Quan, Hội bơi chải - Bạch Hạc, Hội Rước voi - Đào Xá, Hội rước Chúa Gái - Hy Cương, Hội ném còn của đồng bào Dân tộc Mường... hay hòa mình trong những điệu hát Ghẹo hát Ghẹo, hát Đối, hát Ví từ lâu đã nổi tiếng làm say đắm lòng người.

  • 2
    Di chuyển
    Phương tiện di chuyển – đi lại
    • Lịch trình :  Hà Nội – Phú Thọ
    • Giờ xuất bến : Phú Thọ 9h00 Hà Nội 16h00
    • Điện thoại : 0982 195902 – 0989 781678
    TRUNG HẰNG
    • Lịch trình :  Hà Nội – Phú Thọ
    • Giờ xuất bến : Phú Thọ (6h30) Mỹ Đình (13h15)
    • Điện thoại: (0210) 3712077 – 0982 885955
    • Địa chỉ : 30 Nguyễn Khuyến, Âu Cơ, TX Phú Thọ
    THỦY TOÀN
    • Lịch trình : Hà Nội – Việt Trì
    • Giờ xuất bến : Việt Trì (14h00) Mỹ Đình (17h00)
    • Điện thoại : 0210 384 2547 – 0915  171 119
    HẢI THƯỜNG
    • Lịch trình : Hà Nội – Thanh Sơn (Phú Thọ)
    • Giờ xuất bến : Tân Minh (5h00) Văn Miếu (13h10) Thanh Sơn (5h00, 13h40) Mỹ Đình (10h15, 17h30)
    • Điện thoại : (0210) 387 4281 – 0902 216 468 – 0987 907 388
    TIẾN NGA
    • Lịch trình : Liên Phương – Hậu Bổng – Ấm Thượng – Chu Hưng – Hương Xạ – Thanh Ba – Việt Trì – Mỹ Đình
    • Giờ xuất bến : Liên Phương (7h00) Mỹ Đình (13h15)
    • Điện thoại : (0210) 388 3094 – 0948 327 099 – 0972 743 127
    THỦY CHÍNH
    • Lịch trình : Hà Nội – Thị xã Phú Thọ
    • Giờ xuất bến : Phú Thọ (4h00 5h30 6h00 6h30 7h00 8h00 12h00 13h15 14h00) Mỹ Đình (8h30 9h00 10h20 11h45 12h30 15h10 16h00 16h50 17h30)
    • Điện thoại : (0210) 382 0189 – (0210) 352 0189 – 0982 233 560 – 0912 233 560
    • Địa chỉ: 236 phố Phú An, P.Phong Châu, TX Phú Thọ
    LIÊN ANH
    • Lịch trình : Tạ Xá – Văn Khúc – Lâm Thao – Việt Trì – Mỹ Đình
    • Giờ xuất bến : Tạ Xá 6h30 Việt Trì (8h00 16h30 ) Mỹ Đình (14h20)
    • Điện thoại : 0978 225 800 – 0918 949 888
    TÂN NGA
    • Lịch trình : Ấm Thượng – Việt Trì – Mỹ Đình
    • Giờ xuất bến : Ấm Thượng (6h00) Mỹ Đình (12h00)
    • Điện thoại : 0945 338 338 – 0979 673 098
    TRƯỜNG SƠN
    • Lịch trình :  Mỹ Đình – Phú Thọ
    • Giờ xuất bến : Phú Thọ (13h45) Mỹ Đình (17h45)
    • Điện thoại : 0984 881 128 – 0912 764 330
    KHÁNH LINH 
    • Lịch trình : Ấm Thượng – Thanh Ba – Việt Trì – Hà Nội
    • Giờ xuất bến : Ấm Thượng (4h00) Việt Trì (6h15, 14h45) Mỹ Đình (12h40)
    • Điện thoại : 0983 885 348 – 0988 944 389
    Các tuyến xe buýt chạy nội tỉnh Phú Thọ
    Hiện tại tỉnh Phú Thọ chưa có các tuyến xe buýt chạy nội tỉnh cũng như xe buýt kế cận. Chúng tôi sẽ cập nhật ngay khi có tin tức mới nhất
    TUYẾN SÀI GÒN – PHÚ THỌ
    ĐỨC TUẤN
    • Lịch trình : Cẩm Khê – Phú Thọ – Hà Nội – Sài Gòn – Bình Dương
    • Giờ xuất bến : Phú Thọ7h  các ngày 4-14-24 âm lịch Sài Gòn 16h các ngày 8-18-28 âm lịch
    • Điện thoại :  0933 901446 – 0988 141072
    KHOA NHƯ TĨNH
    • Lịch trình : Sài Gòn – Phú Thọ
    • Giờ xuất bến : Phú Thọ 17h các ngày 1-11-21 kinh nghiệm phượt âm lịch Bến xe Miền Đông 5h các ngày 6-16-26 âm lịch
    • Điện thoại : 0210 3820449 – 0912 064572 – 0913 282602
    NGỌ LAN
    • Lịch trình : Sài Gòn – Bình Phước – Phú Thọ – Yên Lập
    • Giờ xuất bến : Yên Lập 7h các ngày 9-19-29 âm lịch Bến xe Miền Đông 5h các ngày 4-14-24 âm lịch
    • Điện thoại : 0210 3629035 – 0913 282628 – 0912 577703
    Bằng phương tiện cá nhân
    Thành phố Việt Trì cách trung tâm thủ đô Hà Nội 80 km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 50 km và nằm đối diện với huyện Ba Vì, Hà Nội nên bạn hoàn toàn có thể lên kế hoạch cho một chuyến phượt ngắn ngày (thăm vài điểm) hay dài ngày (tham quan tất cả các thắng cảnh của Phú Thọ).

  • 3
    Đến vào thời gian nào?
    Các lễ hội lớn nhỏ của Phú Thọ diễn ra rải rác suốt năm nên nếu muốn tham gia lễ hội nào, bạn chỉ cần lên lịch trình xuất phát vào ngày gần đó hay ngay ngày diễn ra lễ hội. Một lễ hội lớn mà bạn không nên bỏ qua ở Phú Thọ là lễ giỗ các vua hùng vào ngày 10/3 âm lịch hàng năm.
  • 4
    Lưu trú
    Khu vực trung tâm Phú Thọ gồm các tuyến đường Nguyễn Tất Thành, Hùng Vương, Trần Phú ... Các bạn căn cứ vào đó để thuê khách sạn tiện cho việc di chuyển nhé:


    Khách sạn, nhà nghỉ ở Phú Thọ có giá khá cao và luôn trong tình trạng cháy vé, bạn cần gọi điện đặt phòng trước khi đến. Một số khách sạn bạn có thể tham khảo giá như Bapaco, Khánh Linh, Sông Hương.
  • Khách sạn Bãi Bằng**
     Thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, Phú Thọ
     Tel:                  (84-210) 829 351
     Fax:                 (84-210) 829 666
     Số phòng:        48
     Giá (US$):        25++
     Khách sạn BaPaCo**
     Thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, Phú Thọ
     Tel:                  (84-210) 829 023
     Fax:                 (84-210) 829 951
     Số phòng:        33
     Giá (US$):        10-12
     Khách sạn Hà Nội**
     2191 Đại lộ Hùng Vương, Tp. Việt Trì, Phú Thọ
     Tel:                  (84-210) 849 950
     Fax:                 (84-210) 849 951
     Số phòng:        33
     Giá (US$):        20++
     Khách sạn Hoàng Long**
     Phường Vân Cơ, Tp. Việt Trì, Phú Thọ
     Tel:                  (84-210) 851 493
     Fax:                 (84-210) 846 126
     Số phòng:        25
     Khách sạn Hồng Ngọc**
     1482 Đại lộ Hùng Vương, Tp. Việt Trì, Phú Thọ
     Tel:                  (84-210) 844 513
     Fax:                 (84-210) 844 512
     Số phòng:        26
     Giá (US$):        15-25
     Khách sạn Hương Giang**
     Phường Vân Phú, Tp. Việt Trì, Phú Thọ
     Tel:                  (84-210) 854 760
     Fax:                 (84-210) 854 763
     Giá (US$):        22-25
     Khách sạn Phương Nam**
     1948 Đại lộ Hùng Vương, Tp. Việt Trì, Phú Thọ
     Tel:                  (84-210) 845 125
     Fax:                 (84-210) 849 997
     Số phòng:        27
     Khách sạn Khánh Linh*
     2094 Đại lộ Hùng Vương, Tp. Việt Trì, Phú Thọ
     Tel:                  (84-210) 846 872
     Khách sạn Sông Hương*
     2375 Đại lộ Hùng Vương, Tp. Việt Trì, Phú Thọ
     Tel:                  (84-210) 848 986
     Số phòng:        15
     Khách sạn Sông Lô*
     Đường Trần Phú, Tp. Việt Trì, Phú Thọ
     Tel:                  (84-210) 846 318
     Fax:                 (84-210) 846 245
     Số phòng:        60
     Giá (US$):        20++
     Khách sạn Công Đoàn
     1504 Đại lộ Hùng Vương, Tp. Việt Trì, Phú Thọ
     Tel:                  (84-210) 848 253
     Khách sạn Sông Vàng
     Thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, Phú Thọ
     Tel:                  (84-210) 873 387 
  • 5
    Đặc sản Phú Thọ
    Đặc sản Phú Thọ gồm hồng Gia Thanh, hồng Hạc, bưởi Đoan Hùng, cọ Cẩm Khê, trám (đen, trắng, chè (trà), sắn (lá sắn non), cá Anh Vũ, cá Lăng, cá Cháy, bánh Hòn, bánh tai, xôi cọ và thịt chua.

  • Quán ăn
  • Thành phố Việt Trì

    quán Hùng Cường (92-94 Hòa Phong) là có bán món lợn lửng thui rơm. 

    Bánh cuốn: quán chả có tên thì phải, đi thẳng dốc công đoàn lên, đển đỉnh dốc thì rẽ trái, có cái Biển vào ngân hàng chính sách hay gì đấy, thì lại rẽ trái, rẽ trái tiếp ngõ đầu tiên, rẽ phải là đến.

    quán lẩu dê Nội Hiển sát bên hiệu sách tự chọn.

    thịt chó: Hoàng Bắc,Quang Huệ và Thanh Bình đều ăn rồi và cảm nhận chung là rất ngon. đường Đoàn kết. Quang Hoà nằm trên đường Nhật Tân, đối diện với chợ Trung Tâm

    Trứng nướng ngay Đài Phun Nước.

    các quán cá ven sông như Hạc Trì, Quán Cá Bờ Sông ( nằm trên đường Sông Thao - cách bãi nổi sông Hồng có 1 tẹo ) ... Món khai vị ở đây khá lạ, là dưa muối làm từ giá đỗ và hành lá, chua khủng khiếp và tạo cho ta cảm giác rất... thèm ăn các món tiếp theo. Cá lăng chủ đạo thì phải. Thì đấy, cá hấp, cá nướng, nhiều món lắm. Mình khoái cá hấp ngọt lừ, với cá nướng riềng và dấm bỗng, gần giống với chả cá Lã Vọng ở HN nhưng mà nhiều gia vị hơn.

    bánh tai, đặc sản Phụ Thọ hay được bán vào buổi sáng. bánh ngon của cô bán ở chợ phường Hùng Vương.

    món bánh cay, bánh quảy chỗ gần cổng 27/7

    quán phở ngay trước cổng trường Hùng Vương.

    bánh sắn, bánh này ngày xưa hay được bán ở cổng sau trường Cao đẳng. Bánh được làm từ sắn tươi, duôi nhỏ đồ chín lên nặn thành bánh hình vuông sau đó đem rán lên cùng chút hành tươi.

    chè Thái chỉ bán duy nhất ở chợ Mè, chỗ bác bán hàng mã.  chè Bưởi ở chợ Trung Tâm.

    Huyện Tân Phú

    Thịt chó: Hồng Khánh (trước đây gọi là Khánh Hùng)

    Thịt Dê: Ông Thắng

    Sườn xào: Khánh Thanh

    Vịt lam hoa chuối: Sáu nhàn

    Cá đuối nướng: Hòa Đồng

    Gà mò: Trung Đồng

    Lươn xào chuối tiêu: Quỳnh trang

    Phở buổi trưa: Hải Hoa

  • 6
    Mang gì khi đến Phú Thọ?
    - Bất kỳ trang phục, giày dép bạn thích. Lưu ý khi tham quan, viếng các đền, chùa cần ăn bận kín đáo.

    - Mang theo vật dụng đi nắng nếu đến vào mùa nắng và dụng cụ đi mưa nếu đến vào mùa mưa.
    - Mang theo kem chống muỗi, thuốc trị côn trùng, thuốc trị các bệnh thông thường.
    - Mang theo lều, áo khoác nếu có ý định cắm trại.
  • 7
    Các cung đường thường gặp
    Hà Nội - Phú Thọ - Hòa Bình

    Hà Nội - Phú Thọ - Tuyên Quang
    Hà Nội - Phú Thọ - Vĩnh Phúc
    Hà Nội - Phú Thọ - Yên Bái
    Hà Nội - Phú Thọ - Tuyên Quang - Yên Bái - Vĩnh Phúc