THỜI TRANG

CHIA SẺ

KHÁM PHÁ

SỨC KHỎE

GÓC TRÁI TIM

XÃ HỘI

NHỊP SỐNG TRẺ

BÀI VIẾT MỚI

12 CHÒM SAO

TÔI NHỚ

TÔI YÊU

TÔI TÂM SỰ

TÔI HẠNH PHÚC

BÀI MỚI NHẤT

TIN ẢNH

TIN SHOWBIZ

LÀM ĐẸP

Hiển thị các bài đăng có nhãn Đồng Tháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đồng Tháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 21 tháng 4, 2016

Chuột đồng quay lu đất Đồng Tháp

Những chú chuột đồng ăn no lúa béo múp míp đã chín rộm vàng, thịt ăn thì thơm ngon nhưng nhìn không phải ai cũng dám thử, nhưng sau khi thưởng thức chắc chắn các bạn sẽ phải thay đổi suy nghĩ ngay đấy.
Nhờ vào tài chế biến của những đầu bếp dân dã, món chuột đồng bỗng trở nên thơm ngon một cách kì lạ. Ít ai biết được rằng món ăn CHuột Đồng được báo Anh vinh danh là 1 trong 10 món ăn đặc biệt . Hãy thử tìm hiểu món chuột đồng quay lu đất nhé

Chuột đồng quay lu đất Đồng Tháp
Chuột đồng quay lu đất Đồng Tháp
Đi khắp Nam Bộ mùa nước nổi, đâu đâu cũng có món thịt chuột đồng mời gọi khách, ngoài món chuột hun khói vốn đã rất quen thuộc, thì món chuột đồng quay lu không chỉ là món ăn mà còn là nét văn hóa đặc trưng của người dân Nam bộ, chuột đồng vừa là món ăn vừa là đặc sản chỉ có khi tới mùa gặt. Thưởng thức chuột đồng người ăn sẽ cảm thấy mê mẩn và nhớ mãi không thôi.
Món chuột đồng quay vàng vô cùng bắt mắt với những gia vị được tẩm ướp vừa miệng khiến mọi người xuýt xoa khen ngợi, bạn sẽ vỡ òa cảm xúc khi nếm hương vị tuyệt vời của món ăn này. Nếu đã có đôi lần nếm thử chuột đồng chắc chắn bạn sẽ nhớ mãi không thôi và muốn quay lại miền Tây để thưởng thức nó một lần nữa.
Nhiều người cảm thấy sợ, nhưng kỳ thực đây là món ăn rất ngon
Nhiều người cảm thấy sợ, nhưng kỳ thực đây là món ăn rất ngon
Hàng thịt chuột quay lu ở mảnh đất Đồng Tháp lúc nào cũng đông khách khi vào mùa lúa, chuột đồng là đặc sản. 8h sáng, hàng mới bắt đầu bắc lò. Trong lúc chờ, bạn có thể nhâm nhi uống tách trà và nghe chuyện người Đồng Tháp bắt chuột.
Chuột có nhiều loại, nhưng phải là những chú chuột sống ngoài đồng, ăn lúa mới dùng để quay, rán được vì thịt thơm, không bị hôi. Chuột để quay lu phải là những chú đã ăn no lúa chín, béo múp míp. Vì thế, chuột đồng sau mùa gặt béo múp là những chú chuột ngon nhất để quay lu.
Chuột đồng sau mùa gặt béo múp là những chú chuột ngon nhất để quay
Chuột đồng sau mùa gặt béo múp là những chú chuột ngon nhất để quay
Người dân sau mùa gặt quây đuổi chuột trên gò, giăng lưới để đôi khi lại đốt rơm hum khói. Có những con được thịt ngay giữa đồng bằng cách thui rơm để nhậu lai rai. Thịt chuột hun trong rơm rạ thơm mùi nắng, mùi sữa, ngon tuyệt.
Chuột bắt về khoảng 5 – 7 con/kg, được làm sạch ruột, cắt móng, rồi tẩm ướp gia vị trong khoảng 15 phút, sau đó móc từng con cho vào lu. Chiếc lu này còn được gọi là mái đầm, tùy cỡ lu mà mỗi mẻ quay được khoảng từ 8 – 30 con. Vừa quay vừa trở tay, thêm mỡ, thêm nước gia vị, khoảng một tiếng sau thì chuột chín vàng.
Ngoài quay lu chuột còn có thể làm nhiều món ngon khác như khìa, chiên hay nướng
Ngoài quay lu chuột còn có thể làm nhiều món ngon khác như khìa, chiên hay nướng
Khi gắp ra đĩa, nếu không bảo là chuột, dễ tưởng nhầm đó là một chú lợn “bao tử” vừa được quay. Mùi thơm hấp dẫn. Muối tiêu chanh và rau răm, chuối chát, cà chua, dưa leo được bày ra. Cầm miếng thịt chuột lên nếm, da giòn tan, thịt thơm và mềm. Không còn cảm giác ghê ghê ban đầu là ăn thịt chuột, chỉ thấy thịt chuột thật là ngon. Bởi thế, người miền Tây gọi thịt chuột là “nai đồng quê”.
Ngoài quay lu, chuột đồng còn được nướng hoặc hấp, nhưng quay lu có lẽ là ngon hơn cả và nhất định phải là chuột của mùa lúa tháng 9, tháng 10.

Câu Chuyện " Người Tình" và Nhà Cổ Huỳnh Thủy Lê (Đồng Tháp)

Nằm bên bờ sông Tiền, thuộc thị xã Sa Đéc, nhà cổ Huỳnh Thủy Lê là điểm đến thu hút đông đảo du khách mỗi khi ghé thăm tỉnh Đồng Tháp
Nét đặc biệt của ngôi nhà cổ này là sự giao thoa kiến trúc Việt-Pháp-Hoa cùng câu chuyện tình lãng mạn giữa nữ văn hào Pháp Marguerite Duras với công tử họ Huỳnh.
Khi chúng tôi đến đây, đoàn du khách Australia hơn 40 người đang chăm chú ngồi nghe cô hướng dẫn viên của Công ty cổ phần Du lịch VNTOUR giới thiệu về ngôi nhà và chuyện tình giữa nữ văn hào Pháp Marguerite Duras và ông Huỳnh Thủy Lê. 

Cái không khí sầm uất ở khu phố Sa Đéc dọc bờ sông Tiền trong buổi chiều muộn càng làm cho du khách cảm nhận được cảnh trên bến dưới thuyền nhộn nhịp ngày nào.
Ngôi nhà cổ này được xây dựng năm 1895 bằng vật liệu chính là gỗ. Mái nhà lợp ngói âm dương, hai bên đầu cong vút hình chiếc thuyền, tượng trưng cho miền sông nước Tây Nam Bộ. 
Năm 1917, ông Huỳnh Cẩm Thuận (cha ông Huỳnh Thủy Lê) cho trùng tu lại ngôi nhà mang dáng dấp một biệt thự Pháp, kết hợp hài hòa giữa hai lối kiến trúc Đông-Tây. Từ đó đến nay, mặc dù đã hơn 100 năm nhưng ngôi nhà vẫn còn nguyên vẹn.
Ngôi nhà là một công trình kiến trúc khác lạ. Phía ngoài ấn tượng với lối kiến trúc Pháp qua các chi tiết mặt tiền, trần nhà, khung cửa sổ. Những bức tượng, phù điêu đắp nổi được trang trí theo kiểu Phục hưng. Vòm cửa cong vòng theo lối kiến trúc La Mã, cửa sổ với khối kính nhiều màu kiểu Gothic đón ánh sáng. Nhìn từ ngoài vào ngôi nhà, du khách thấy sự uy nghiêm, bề thế, cho thấy gia chủ là người rất giàu có và uy quyền.
Tuy nhiên, vào trong ngôi nhà, du khách lại có cảm giác yên bình và thân thuộc. Lối kiến trúc phương Đông thể hiện sự mềm mại qua những đường nét chạm khắc tinh xảo, cầu kỳ hình chim muông, cây trái, tùng, cúc, trúc, mai trên gỗ quý. Điều đặc biệt là các họa tiết đó lại khắc họa cảnh sông nước Nam bộ sầm uất, cây trái xanh tươi, tượng trưng cho vùng đất trù phú. 


Ngôi nhà được chia thành ba gian, gian giữa thờ Quan Công theo văn hóa tín ngưỡng truyền thống của người Hoa. Hai gian hai bên là nơi tiếp khách cùng hai phòng ngủ, một hành lang rộng dẫn xuống nhà dưới. Nền nhà cao ráo, lát gạch hoa, tường xây bằng gạch đặc dày 30cm-40cm, bao lấy kết cấu khung gỗ, làm tăng khả năng chịu lực. Tất cả vật liệu này đều được mang từ Pháp về để xây dựng.

Ngôi nhà này là nơi đây bắt đầu cho một câu chuyện tình giữa gia chủ và nữ văn hào Pháp Marguerite Duras. 

Cuối năm 1929, trên chuyến phà Mỹ Thuận chạy ngang sông Tiền, ông Huỳnh Thủy Lê thấy một giai nhân nổi bật có nước da trắng, tóc nâu vàng, dáng người cao ráo, đứng lơ đễnh trên phà nhìn những đám lục bình trôi tản mạn trên sông. 

Ông đã chủ động đến làm quen với cô gái và cả hai đều trúng“tiếng sét ái tình.” Tình yêu ấy kéo dài gần hai năm trong bí mật và kết thúc trong nước mắt khi ông Huỳnh Thủy Lê phải cưới một cô gái đã được cha ông an bài từ trước. Nhìn tình nhân cưới người khác, Marguerite Duras đau khổ tột độ, quyết định cùng gia đình lên tàu trở về nước Pháp.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, Marguerite Duras vẫn ôm nặng mối tình ấy. Trong dòng hồi tưởng, nữ văn sĩ đã viết nên tiểu thuyết “Người tình” (tên tiếng Pháp là L’amant, xuất bản năm 1984) để kể về cuộc tình trắc trở của bà. 

Đến nay, tiểu thuyết “Người tình” được dịch ra hơn 40 thứ tiếng. Năm 1992, đạo diễn người Pháp Jean Jacques Annaud cho ra đời bộ phim cùng tên dựa theo tiểu thuyết của bà. Bộ phim công chiếu đã nhận được nhiều sự tán thưởng của khán giả khắp nơi trên thế giới.

Tiểu thuyết “Người tình” và bộ phim cùng tên ngày càng nổi tiếng thì nhà cổ Huỳnh Thủy Lê lại càng được du khách năm châu quan tâm, tìm hiểu. Rất nhiều đoàn khách nước ngoài từ Pháp, Mỹ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh đã đến đây và rất thích thú. 

Năm 2009, nhà cổ Huỳnh Thủy Lê đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa Quốc gia./. 

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2015

Khu Du Lịch Xẻo Quýt (Đồng Tháp)

Đồng Tháp có khá nhiều di tích lịch sử mà Xẻo Quýt là một trong những điểm du lịch về nguồn độc đáo, để lại nhiều ấn tượng đẹp đẽ trong lòng du khách trong và ngoài nước.
Khu căn cứ Xẻo Quýt với diện tích khoảng 50 ha, trong đó có 20 ha rừng tràm nguyên sinh, thuộc 2 xã Mỹ Hiệp và Mỹ Long, huyện Cao Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp.Nơi đây khi xưa cỏ dại hoang vu , kênh rạch chằng chịt, lau sậy mịt mùng nhưng ngày nay Xẻo Quýt đã trở thành một khu du lịch nổi tiếng của tỉnh Đồng Tháp.

Xẻo Quýt là căn cứ cách mạng (từ năm 1960-1975) của cơ quan Tỉnh ủy Đồng Tháp lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Mỹ. Trong suốt hành trình cuộc kháng chiến, Xẻo Quýt đã phải hứng chịu rất nhiều trận mưa bom, bão đạn của kẻ thù. Nhưng với tinh thần dân tộc, lòng dũng cảm, chịu đựng hiểm nguy và tài trí thao lược, quân và dân Đồng Tháp đã xoay chuyển tình thế, khắc phục khó khăn, mang chiến thắng về cho quê hương, đất nước.
Du khách có thể đến với khu căn cứ Xẻo Quýt (được công nhận di tích lịch sử quốc gia vào năm 1992) bằng cách men theo con đường mòn ngoằn ngoèo dài hơn 1,5km vào sâu bên trong căn cứ hoặc đi thuyền ba lá để len lỏi vào rừng.
di tích xẻo quýt
Cảm giác tự hào về một vùng căn cứ oanh liệt của quân và dân Đồng Tháp sẽ tới với bất cứ ai đã từng tham quan và tận mắt chứng kiến những công sự cá nhân hình chữ L, công sự chiến đấu hình chữ Z được đào đắp bằng đất và cây tràm; những ngôi lán, nhà bếp, phòng hội họp…, hay những “bãi ngù tử địa” có gài lựu đạn chống trực thăng đổ quân và xe tăng bộ binh càn vào căn cứ.
Thả mình vào dòng chảy của thiên nhiên hoang sơ, lắng nghe âm vang của tiếng chim, tiếng nước róc rách, nhạc rừng vi vu, du khách như lạc vào một vùng thiên nhiên trù phú. Các công trình phục hồi của người dân đậm chất khéo léo và tinh tế nhưng vẫn rất thân thiện, gần gũi với tự nhiên.
Sự đa dạng sinh học lại là một đặc điểm thú vị khác lôi kéo du khách lạc vào những trải nghiệm. Thảm tràm già và các quần thể đưng, lục bình là hai kiểu hiện nay hầu như không còn tìm thấy ở các vùng khác của Đồng Tháp Mười, ngoài Vườn Quốc gia Tràm Chim. Nhiều cây tràm sừng sững với tuổi thọ hơn 30 năm vươn cao oai vệ giữa trời, cùng với hệ thống dây leo bám quanh xanh rờn, tạo thành những khối hình chóp nón khổng lồ kiêu hãnh.
di tích xẻo quýt
Hiện Xẻo Quýt có 170 loài thực vật (với 158 loài hoang dại) và 12 loài cây thân gỗ, tuy không quý hiếm nhưng lại là giống cây thích nghi với điều kiện ngập nước. Hệ động vật có 200 loài hoang dã gồm 7 loài ếch nhái, 22 loài bò sát, 73 loài cá, 91 loài chim và 7 loài thú. Đặc biệt ở đây có 13 loài động vật quý hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam: trăn mốc, rắn hổ trâu, rùa hộp, chim sả mỏ rộng và loài rái cá thường...
di tích xẻo quýt
Đến Xẻo Quýt du khách sẽ cảm nhận ngay một khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp.Tham quan Xẻo Quýt vào mùa khô, bạn sẽ len lỏi theo những con đường mòn ngoằn ngoèo dưới tán tràm mát rượi. Mùa nước lên, trên chiếc xuồng ba lá, những cô du kích áo bà ba, khăn rằn, nón tai bèo đưa du khách luồn lách qua những con rạch nhỏ hoang sơ để vào những di tích nằm khuất trong rừng tràm mênh mông.
Ngoài ra, Xẻo Quýt còn làm say lòng du khách với khu vui chơi, du lịch dã ngoại rộng 25ha với những dòng kênh, cánh đồng, ao sen... tạo thành một khu liên hợp với nhiều trò chơi dân gian mang tính giáo dục và trải nghiệm thực tế thú vị. Đặc biệt, về đêm du khách có thể xuôi mái chèo trên sông đắm mình trong cảnh sắc êm đềm của thôn quê, lắng nghe những câu hò mượt mà của những cô gái Đồng Tháp, những bài ca tài tử ngọt ngào đậm chất Nam bộ...
di tích xẻo quýt
Nếu đi vào mùa sen nở, bạn sẽ được nhìn ngắm một bức tranh thiên nhiên đẹp mắt mang đặc trưng của xứ Đồng Tháp Mười.
di tích xẻo quýt
Ẩm thực nơi đây cũng rất phong phú với các món ăn như: cá lóc nướng trui; cá rô kho tộ; canh chua cá; chuột đồng nướng...
du tích xẻo quýt
Sau khi tham quan, nghỉ ngơi, du khách có thể học cách đan lát các vật dụng trong gia đình như giỏ đi chợ, kệ đựng sách báo... từ những cây bèo tây (lục bình) phơi khô.
di tích xẻo quýt
Nếu  muốn khám phá du lịch miền tây sông nước thì di tích Xẻo Quýt là 1 điểm dừng chân thú vị không thể bỏ qua

Chùa Lá Sen (Chùa Phước Kiển- Đồng Tháp)

Chùa Phước Kiểng Tự, tọa lạc tại xã Hòa Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp có khuôn viên không lớn cũng không bé, nằm ngoảnh mặt ra hướng bờ sông nổi danh bởi những chuyện lạ về sen, về rùa (quy) và cả chim hạc...
Liên tiếp trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chùa Phước Kiểng Tự có lúc là cơ sở chế tạo vũ khí, khi là nơi hội họp của các cán bộ nòng cốt... Đất nước thống nhất, chùa trở lại bình thường như bao chùa khác. Đến đầu những năm 90 của thế kỷ trước, chùa bỗng nổi danh bởi những chuyện lạ về sen, về rùa (quy) và cả chim hạc.

Sen "cõng" được người
Đến vùng chợ Nha Mân (Đồng Tháp), nơi nổi tiếng bởi câu "Gái Nha Mân, thuốc Cao Lãnh" hỏi chùa Phước Kiểng có người biết người không. Không phải là vì chùa không nổi tiếng, mà bởi người dân quen gọi chùa với cái tên chùa Sen, nên nhiều người lạ lẫm bởi cái tên thật của chùa. Từ chợ Nha Mân, rẽ trái khoảng 15 cây số sẽ đến chùa.

Hòa thượng Thích Huệ Từ trụ trì chùa Phước Kiểng nói ngôi chùa này vốn dĩ là của bác ruột ông, Hòa thượng Thích Huệ Trí. Năm Thích Huệ Từ lên 8 tuổi đã vào tu ở chùa. Ngày ấy, phía trước chùa có cái ao sen nhỏ, toàn loại sen Bá Biển (hay còn gọi là sen trăm cánh). Rồi nhiều sự biến xảy ra, loại sen Bá Biển được thay bằng một loại sen lạ khác. Cho đến nay, loại sen lạ vẫn chưa có tên, nên ai thích gọi là sen gì cũng được.
Năm 1966, chùa là nơi Tỉnh đội tạm dùng làm xưởng đúc súng đạn để trang bị chống lại quân địch. Có dạo, viên Đại tá ngụy Huỳnh Ngọc Diệp cho máy bay rải truyền đơn và phát loa liên tục kêu gọi người dân di tản để chuẩn bị "làm cỏ" chùa bằng bom. Trước tình cảnh ấy, các sư trong chùa bắt buộc dời tượng đi sơ tán. 3 ngày sau, một trận không kích dữ dội đã khiến san bằng ngôi chùa!

Năm 1970, Hòa thượng Thích Huệ Từ sau thời gian sơ tán đã hồi cư và bắt đầu dựng lại chùa. Chùa được dựng với cột bằng tre gai, lợp mái lá... và tiếp tục là địa điểm bí mật để các cán bộ cách mạng hội họp. Người dân trong vùng tiếp tế cho cách mạng bằng cách mang gạo, đường, hoa quả lấy cớ là đi dâng Phật.
Ngày đất nước thống nhất, Hòa thượng Thích Huệ Từ cho dọn lại các hố bom trong chùa để trồng súng, sen... Thời gian trôi, mãi cho đến cuối năm 1992 (Hòa thượng Thích Huệ Từ nhớ là vào ngày 8/1/1992 Âm lịch - PV), khi nhổ bông súng đi bán, trụ trì phát hiện đóa sen lạ. Lá của loại sen này khác hẳn loài sen hiện có, lá sen dày, có nhiều gai nhọn quanh tán lá. Ngay cả cuống sen cũng có gai, rất sắc. Càng lớn, lá sen càng to. Rồi sen nở hoa.
Hoa sen bên ngoài đỏ thắm, trong có màu trắng tuyết, bề mặt phía dưới hoa sen chứa rất nhiều gai. Hoa sen thay đổi màu tùy theo từng khoảng thời gian trong ngày. Lúc 6 giờ tối sen nở có màu trắng, thơm suốt đêm đến 6 giờ sáng thì khép lại. Đến 12 giờ trưa, hoa sen chuyển sang màu hồng. Khoảng 3 giờ chiều, sen nở lần thứ hai đến 4 giờ thì chuyển sang màu tím nhạt. Từ khoảng 5 đến 6 giờ chiều, sen đổi thành màu hồng. 3 ngày sau, hoa sen chuyển sang màu tím than và bắt đầu tàn.

Đến mùa nước nổi khoảng tháng 9 đến tháng 10 (âm lịch), sen no nước nên phát triển rất nhanh. Hòa thượng Thích Huệ Từ khẳng định, lắm khi lá sen to hơn cả cái nia cho tằm ăn, đường kính khoảng 2,5m, lá rất dày. Một lần, ông lấy tấm ván gỗ lót thử lên lá sen, rồi đứng trên bề mặt tấm ván xem lá sen có chịu nổi trọng lượng của mình hay không. Nào ngờ, vòng ngoài lá sen chỉ uốn lên chút xíu, chứ không chìm.
Nhiều người dân trong vùng nghe tin có loài sen lạ, vội bảo nhau đến... đứng thử. Rồi một đồn mười, mười đồn trăm, phút chốc người dân ở các tỉnh lân cận rủ nhau đi xem sen và chụp ảnh lưu niệm.
Anh xe ôm hôm chở tôi vào chùa, khoe, đến mùa nước nổi, du khách đến xem sen rất đông, khiến cánh xe ôm không thiếu việc. Kêu giá cao bao nhiêu, hét đến đâu khách vẫn đi. Lắm khi, khách này còn cãi nhau với khách kia để tranh đi xe. Đơn giản, đường vào chùa ngày đó chỉ xe ôm mới vào được.
Song song với tin đồn về khả năng sen có thể “cõng" người, còn một tin đồn khác. Nhiều người nói Hòa thượng Thích Huệ Từ xây một khối gạch dưới hồ, rồi lót lá sen lên, chứ bản thân lá sen đụng vào là rách, làm sao có thể "cõng" được người. Nghe chuyện, ông trụ trì già chỉ biết cười buồn.

Số là có vị khách nữ ở tỉnh bạn đến tham quan chùa, thấy lá sen to, thay vì phải lót ván rồi mới đứng lên, vị khách nữ ấy lại thản nhiên mang giày cao gót bước xuống sen, vậy là lá sen rách. Mãi cho đến khi có các vị khách ở Vĩnh Long xuống tham quan chùa, mang theo máy chụp ảnh loại "xịn", Hòa thượng mới nhờ một khách đứng giữa lá sen, các vị khách còn lại thay nhau chụp ảnh để "minh oan".
Thấy loài sen quý hiếm, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã lặn lội đến chùa xin đem giống về trồng thử. Loại sen lạ này nghe đâu phải gieo hạt mới sống. Thầy trụ trì nói hạt sen nằm ở trong nhụy sen, hạt thì nhỏ như hạt thanh long, lớn như hạt ổi, có màu trắng tươi, bóp thử thấy rất mềm.
Các nhà nghiên cứu lấy hạt sen, đem phơi khô rồi trộn lẫn hạt với nhiều loại hóa chất khác nhau đem gieo thử nhưng thất bại. Tiếp đến, họ lấy bùn và nước trong ao của nhà chùa về gieo, sen vẫn không nảy mầm. Cứ như sen chỉ có thể mọc ở chùa Phước Kiểng vậy.
Hòa thượng Thích Huệ Từ cho biết thêm, do kinh phí của nhà chùa không đủ để đầu tư, chứ nếu có tiền, ông sẽ thường xuyên cung cấp nước cho sen để xem thử sen sẽ phát triển đến mức nào. Nguyên do sen lạ là loài thực vật "uống" nước nhiều, nên cứ vào mùa khô của vùng Tây Nam Bộ (khoảng tháng 3 âm lịch), nước trong hồ xuống đến mức thấp, sen không phát triển hoặc chết khô. Nếu có lớn, cũng chỉ bằng cái nón lá chứ không đẹp như khi đủ nước.
Đợt mùa khô năm 1998, toàn bộ sen trong chùa chết hết. Thầy trụ trì xót lắm, cứ tưởng là đã tuyệt chủng giống sen lạ, nhưng may thay vào năm sau, sen lại đùng đùng lớn dậy. Hôm chúng tôi vào thăm chùa không phải là dịp nước ròng, nên lá sen chỉ to gần bằng... cái nong dùng cho tằm ăn một chút.
Đáng tiếc, dẫu là loại thực vật có nhiều gai bao bọc, sen vẫn bị ốc bươu vàng tấn công. Nhiều lá sen bị rách nát tả tơi, trên mặt lá còn bám rất nhiều mảng trứng ốc bươu vàng. Chùa nghèo, thầy trụ trì không đủ tiền để ngăn lưới chống ốc bươu vàng, cứu sen.
Một điểm đặc biệt khác, cắt thử cuống để đưa một lá sen lên bờ nhằm xem phần mặt dưới của nó ra sao. Thật bất ngờ, phần dưới lá sen là những khối ô vuông được liên kết với nhau tạo thành. Thầy trụ trì nói chính nhờ những khối ô vuông này nên sen mới có thể chịu trọng lượng khoảng trên 50 kg đặt lên mà không chìm.
Con rùa thông minh
Ngoài chuyện sen lạ, chùa Phước Kiểng còn hai linh vật khác rất được khách thập phương mến mộ là quy và hạc. Nói theo kiểu nhà Phật, cả hạc lẫn rùa đã được siêu thoát, hiện nay không còn ở chùa nữa. 
Rùa hay còn gọi là Quy và được người dân gọi là "ông Quy", về chùa ở với thầy trụ trì từ năm 1948. Quy là loại rùa nước ngọt, con lớn nhất cũng chỉ bằng cái nón lá. Ở chùa gần 20 năm, binh biến xảy ra, chùa sơ tán khẩn cấp, quy cũng thơ thẩn bò ra đường tránh bom đạn. Không may, một người dân gần đấy bắt được quy.
Mà cũng ngặt, chùa nằm trong vùng bị đánh phá, quy lại bò ra ngay vùng địch chiếm. Vậy là quy bị bắt. Người bắt được quy khoét mai, lấy dây xích sắt xỏ qua, cột quy vào góc nhà để làm kiểng. Có lần, thầy trụ trì đi ngang, quy nghe hơi, cứ chồm lên đòi bứt dây xích, nhưng bứt thế nào được. Thầy trụ trì nhìn cảnh ấy mà ứa nước mắt.
Năm 1970, chùa được dựng lại. Không hiểu làm thế nào mà quy lại có thể tự thoát, tìm đường về chùa. Khi gần đến chùa, quy lại bị bắt lần nữa. Một chị gần chùa bắt quy về giam trong nhà để đòi tiền chuộc. Thầy trụ trì nói, tiền chuộc chị đưa ra là 1.500 đồng, thầy vét hết túi chỉ có 1.000 đồng. Chị nhất định không cho chuộc và đòi mang quy ra chợ bán. May mà khi chị chở quy ngang qua cửa chùa, thầy trụ trì đã kiếm được đúng 1.500 đồng để chuộc quy về. Thế rồi quy ở hẳn trong chùa từ đó.
Chuyện như giai thoại. Có lần, tên Mười Phu, trung đoàn trưởng quân ngụy đóng bên kia sông nghe tin chùa có con quy rất khôn, bèn dắt lính mang súng sang "thử thách". Mười Phu nói với thầy trụ trì: "Nghe nói ông có con quy rất khôn, giờ ông bồng nó ra trước sân chùa, nếu nó bò ngược trở vào chùa được thì tui đi. Nó bò lệch đường, tui bắn bỏ, đem về làm mồi nhậu chơi".
Thầy kể là lúc nghe tên Mười Phu nói thế, thầy cũng ngại vì không biết quy thông minh đến mức nào. Nhưng tình thế không cho phép thầy làm khác. Quy được mang ra sân chùa, khi đặt quy xuống đất, rất chậm rãi, quy ngước đầu nhìn xung quanh rồi chậm chạp bò vào chùa trước những cặp mắt mở to của bọn lính.
Chưa bằng lòng, Mười Phu hạ lệnh cho tên đàn em bắt quy mang ra tận mép sông để thử lần nữa. Lần này, hắn cẩn thận bảo đàn em đắp một con đường bằng bùn dẫn xuống sông với hy vọng quy lâu ngày sống trên cạn, sẽ nhớ nước mà bò theo hướng khác. Ngờ đâu, quy vẫn lặng lẽ quay đầu bò vào chùa.
Thấy vậy, tên Mười Phu văng tục rồi dắt lính vượt sông đi về. Nghe đâu, trước khi đi, hắn còn đốt nhang khấn xin trời phật tha tội vì lỡ nói lời xúc phạm linh vật.
Hạc hiểu tiếng người
Quy ở trong chùa đến năm 1999 thì có bạn. Bạn quy là con hạc được một người dân gần đấy bán cho thầy trụ trì với giá 3,1 triệu đồng. Thầy trụ trì mua hạc với ý định sẽ cắt dây phóng sinh. Ngờ đâu, khi cắt dây, hạc chẳng đi đâu mà chỉ sống quấn quýt trong chùa. Hạc rất hiểu tiếng người.
Thầy bảo hạc bay là bay. Bảo vỗ cánh là vỗ cánh. Bảo che sương là lập tức xòe cánh che ngang đầu thầy khi kinh kệ. Có lần, thầy nhờ người ghi lại cảnh hồ sen. Thợ chụp ảnh muốn có hạc cho đẹp, thầy bảo: “Hạc, con đứng trên lá sen để chụp ảnh. Nhưng đừng bấu vuốt chặt quá, kẻo rách lá sen”.
Lập tức, hạc đậu rất nhẹ nhàng. Thợ bảo, hạc bay từ trên cao xuống lá sen hình mới đẹp. Thầy truyền lại lời, tức khắc, hạc làm theo. Tiếng đồn về hạc lan nhanh còn nhanh hơn cả gió. Ngay ngày hôm sau, nhiều lượt người kéo vào chùa để xem hạc đứng trên lưng quy nghe thầy tụng kinh.
Tiếc thay, hạc ở chùa không lâu. Vài tuần sau, hạc bỏ chùa mà đi. Hình như là có lệnh mang hạc về Trung tâm bảo vệ động vật hoang dã gì đấy. Hạc đi ít lâu, quy cũng mất. Thầy trụ trì tiếc cả hai con vật thông linh, bèn ướp xác quy, đeo vào cổ một chuỗi tràng hạt, đặt trong lồng kính thờ trong chùa. Trên mai quy còn khắc năm vào chùa và ngày mất: 1948 – 29/7/2002.
Hai linh vật mất đi, chùa chỉ còn lại loài sen lạ. Mà sen, thì hiện tại cũng đang bị tấn công bởi ốc bươu vàng. Tiếc thay, chuyện bảo vệ sen dường như chưa được mọi người nghĩ là việc chung mà chỉ là việc riêng của chùa. Theo tôi, đây là một trong những loại sen quý nhất nước ta tính đến thời điểm hiện tại, cần phải được chăm bón và trồng thêm ở nhiều nơi

Làng Hoa Tân Quy Đông (Đồng Tháp)

Tân Qui Đông, thị xã Sa Đéc từ lâu đã nổi tiếng là nơi trồng nhiều hoa kiểng, cung cấp hoa cây cảnh cho nhiều địa phương trong nước và xuất khẩu. Đến với Tân Qui Đông bạn sẽ cảm giác như lạc vào trong thế giới của sắc màu và hương thơm kỳ ảo ngất ngây. Là một nơi có truyền thống trồng hoa kiểng “Làng hoa Tân Qui Đông” xưa chỉ có ít hộ, đến nay số trồng hoa kiểng khoảng 1.500 hộ, với hơn 1.000 chủng loại hoa kiểng khác nhau. Nghề trồng hoa kiểng ở thị xã hiện nay không chỉ tập trung ở phường Tân Qui Đông mà đã lan rộng ở các xã, phường lân cận với nhiều chủng loại phong phú và đa dạng làm cho hoa kiểng ở thị xã không những nổi tiếng trong vùng mà còn được nhiều tỉnh, thành trong và ngoài nước biết đến.

            Làng hoa Sa Đéc không phải là một kỳ tích của thiên nhiên cũng không phải là một kiệt tác về lĩnh vực kiến trúc cổ xưa, nhưng với bàn tay điêu luyện của nhiều thế hệ nghệ nhân, qua gần một thế kỷ đến nay đã trở thành một điểm du lịch lý thú mang sắc thái độc đáo của vùng sông nước Cửu Long. Tân Qui Đông địa danh khá quen thuộc với khách sành điệu trong nghệ thuật chơi hoa kiểng, là địa phương nép mình bên dòng nước sông Tiền có nhiều phù sa, quanh năm lộng gió, ánh mặt trời; phù sa sông Tiền là nguồn sữa mẹ, hợp cùng bàn tay và tâm hồn nghệ sĩ của nghệ nhân đã ươm mầm, nuôi dưỡng và tạo dáng cho nhiều loài hoa kiểng có giá trị như một tác phẩm nghệ thuật góp phần làm đẹp thêm cuộc sống của con người. Đi tới đâu hoa kiểng Sa Đéc cũng được đón nhận trân trọng và nồng hậu, bởi lẽ trên hành trình này không thiếu những tâm hồn thích thưởng thức cái đẹp thanh nhã của hoa kiểng.

            Nghề chơi hoa kiểng cũng lắm công phu, bạn muốn thấu hiểu, tận hưởng và đi sâu vào nghệ thuật chơi hoa kiểng thì cái thú ngồi một chỗ để ngắm nhìn sẽ kém xa một chuyến đi thưởng ngoạn tận nơi. Xin mời bạn hãy ít nhất một lần gác lại công việc và những mối bận tâm lo toan thường ngày, dành một ít thời gian đến thăm làng hoa kiểng Tân Qui Đông Sa Đéc.

            Thật không còn gì thú vị hơn khi được thả bộ theo bờ sông Tiền, đường tỉnh lộ 848, Lê Lợi, Sa Nhiên – Cai Dao, Sa Nhiên – Ông Thung để được ngắm thoả thích, không phải là vườn hoa hay làng hoa mà là cả một rừng hoa với đủ các kỳ hoa dị thảo đua nhau khoe sắc. Ở Tân Qui Đông con đường từ bờ sông Tiền chạy ra sông Sa Đéc được mang tên Vườn Hồng với Vườn Hồng Tư Tôn nổi tiếng. Bước vào Vườn Hồng Tư Tôn là bạn đã bước vào thế giới của hoa hồng. Các nàng hoa kiêu sa, lộng lẫy như hội cả về đây. Ở đây còn có giống hoa hồng xanh kỳ lạ... được bàn tay nghệ nhân chăm sóc và thuần hoá đang hàng ngày, hàng giờ nở hoa, dâng hương cho mảnh đất Tân Qui Đông ngày càng trở nên xinh tươi và hạnh phúc. Tân Qui Đông không chỉ nổi tiếng về hoa mà còn rất nổi tiếng về cây kiểng như vạn niên tùng, kim quýt, nguyệt quới, mai vàng, mai chiếu thuỷ. Mỗi thế cây dáng đứng đều thắm đượm bản sắc văn hoá Việt Nam, vừa giản dị đời thường, vừa mang tính nghệ thuật, triết lý. Nào là thế phu phụ, thế mẹ bồng con, thế thác nước, thế nghinh phong... mỗi thế có ý nghĩa riêng và đôi khi còn mang cả một truyền thuyết hay triết lý, kinh nghiệm sâu xa của đời.

            Đến Tân Qui Đông là đến thế giới của hoa và kiểng, ngoài cái thú được tận hưởng cái đẹp bên ngoài, các bạn còn được nghe các nghệ nhân giới thiệu đặc điểm, xuất xứ, ý nghĩa và giá trị tinh thần lẫn kinh tế của từng loại. Mỗi năm, làng hoa kiểng Tân Qui Đông đón tiếp hàng ngàn lượt du khách trong và ngoài nước đến tham quan, thưởng ngoạn.
            Trước đây do chưa được đầu tư đúng mức làng hoa kiểng Sa Đéc đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm. Hiện nay, đất nước trên đà phát triển, hội nhập, đời sống vật chất, tinh thần người dân được nâng lên, làng hoa kiểng Sa Đéc khởi sắc bước vào thời kỳ hoàng kim, được bổ sung nhiều chủng loại quý hiếm, mới lạ...; được đầu tư hạ tầng kỹ thuật; định hướng qui mô bổ sung qui hoạch làng hoa, xây dựng chợ đầu mối hoa kiểng và trung tâm lai tạo nhân giống cấy mô làm cho hoa kiểng Sa Đéc thêm hương sắc; được Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định công nhận làng nghề truyền thống hoa kiểng Tân Qui Đông, thị xã Sa Đéc.

            Đến với làng hoa kiểng Sa Đéc các bạn như được đắm mình trong thế giới của muôn hoa với vô vàn hương thơm thanh cao, quyến rũ có thể giúp bạn xua tan mệt mỏi, tìm lại tâm hồn thanh thản và nguồn cảm hứng sau những ngày làm việc bận rộn.

Chùa cổ Kiến An Cung (Đồng Tháp)

Chùa Kiến An Cung hay còn gọi là chùa Ông Quách tọa lạc tại phường 2, trung tâm thị xã Sa Đéc, là công trình văn hoá đã được công nhận là di tích lịch sử quốc gia năm 1990. 
Chùa do nhóm nguời Hoa ở tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) định cư tại Sa Đéc xây dựng để thờ cúng tổ tiên và dạy dỗ con cháu, khởi công xây dựng từ năm Giáp Tý (1924) đến mùa thu Đinh Mậu (1927) thì làm lễ khánh thành. 

Đến với di tích này, bạn sẽ được chiêm ngưỡng một lối kiến trúc độc đáo, lộng lẫy và trang trọng. Chùa quay mặt ra rạch Cái Sơn, được xây theo kiểu chữ “Công” uy nghi, bề thế, gồm 3 gian, trong đó gian giữa rộng nhất là điện thờ. Toàn bộ chùa không có kèo, chỉ có đòn tay ráp mộng lại chịu lực trên những cột gỗ tròn làm trụ. 
Mái chùa lợp ngói dợn sóng rồng, trải nền cho những ngọn sóng cong vút lên cao, tạo mái ngói theo chữ “ngũ hành”. Sáu đầu ngọn sóng là sáu cung điện thu nhỏ. Mái ngói được làm rất công phu, gồm 3 lớp: mặt trên là ngói, mặt giữa là gạch, cuối cùng là ngói. 
Chùa Kiến An Cung
Chùa Kiến An Cung - Ảnh: Sưu tầm

Chùa Kiến An Cung
Chùa Kiến An Cung - Ảnh: Sưu tầm

Trước cửa chánh điện có hai con Kỳ Lân bằng đá xanh to lớn, miệng ngậm trái châu, chạm khắc tinh xảo. Hai bên tả, hữu là 2 vị thần Thiện - Ác. Bước vào bên trong là sân lộ thiên nhỏ để dành làm chỗ cúng tế theo cổ tục. Những cột lớn trong chánh điện, các tấm hoành phi, bao lam, đối liễn đều được chạm trổ hoa lá, chim muông lộng lẫy, tôn nghiêm.

Chánh điện chùa thờ Quan Công (Quan Vân Trường), Ngọc Hoàng Thượng Đế. Phía trong chánh tẩm là bệ thờ ngài Quảng Trạch (Ông Quách). Hằng năm chùa có 2 ngày lễ tế: ngày 22/2 và ngày 22/8 âm lịch. Mỗi 3 năm có thiết lập trai đàn, cúng cầu siêu cho bá tánh quá vãng và cầu cho quốc thái dân an.

Chùa Kiến An Cung
Khuôn viên Chùa Kiến An Cung - Ảnh: Sưu tầm

Chùa Kiến An Cung
Khuôn viên Chùa Kiến An Cung - Ảnh: Sưu tầm

Khách đến viếng chùa sẽ thấy mọi thứ trong ngoài đều được sắp đặt khéo léo, không chỉ nhằm tăng thêm vẻ mỹ quan mà còn có ý nghĩa giáo dục, khuyên con nguời tránh dữ làm lành. Hai bên vách tô điểm những hình thập diện phong trần và nhiều chuyện xưa ý nghĩa thâm trầm. Ở mặt chính trên vách chùa có trang trí những cây cối, chim, thú, tượng nguời ghép bằng mảnh gốm màu thu nhỏ tạo thành những bức tranh nằm theo đường gờ lắp kính. Mái trước cửa ra vào có 4 chậu hoa bằng gỗ sơn son thếp vàng, giữa có tấm hoành phi “Kiến An Cung”.

Chùa Kiến An Cung
Hoa văn trên mái Chùa Kiến An Cung - Ảnh: Sưu tầm
  
Trên cửa ra vào có 6 con Lân gỗ thếp vàng, ở mỗi mặt của cánh cửa có vẽ cảnh sinh hoạt của vua chúa và các quan ngày xưa. Hai bên cửa chính có hai câu đối trang trí hoa văn xung quanh, nền chạm hoa mai và hạc thếp vàng rực rỡ. Cửa chính có các bức tranh theo lối thủy mặc, nét hoạ uyển chuyển, sắc bén, còn cửa hai bên lại có chạm khắc bông sen, chim thú thật sinh động…

Chùa Kiến An Cung
Bên trong Chùa Kiến An Cung - Ảnh: Sưu tầm

Chùa Kiến An Cung
Bên trong Chùa Kiến An Cung - Ảnh: Sưu tầm

Trăm nghe không bằng một thấy, nếu có dịp về Đồng Tháp, mời bạn đến viếng chùa Kiến An Cung để tận mắt chiêm ngưỡng một công trình kiến trúc chùa miếu, một nghệ thuật chạm khắc tinh vi và cũng để hiểu vì sao Bộ Văn hoá thông tin đã quyết định công nhận nơi này là di tích lịch sử - văn hoá.

Chùa Kiến An Cung
Bằng công nhận Di tích lịch sử văn hóa - Ảnh: Sưu tầm

Đồng Tháp Mười - Địa danh không phải ai cũng biết

Đồng Tháp Mười là một vùng đất ngập nước của Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 697.000 hecta, trải rộng trên ba tỉnh Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp trong đó Long An chiếm non phân nửa. Vùng Đồng Tháp Mười có khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, vườn quốc gia Tràm Chim. Trong các cuộc chiến tranh chống Pháp và chiến tranh Việt Nam, Đồng Tháp Mười là một trong những chiến khu quan trọng nhất.
Trong thập niên 1980, ba tỉnh nói trên đã đẩy mạnhkhai hoang vùng Đồng Tháp Mười. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần đưa Việt Nam từ một nước thiếu lương thực thành một trong những nước xuất khẩu lúa gạo quan trọng trên thế giới. Đồng Tháp Mười cũng là bối cảnh của bộ phim Cánh đồng hoang nổi tiếng tại Việt Nam.
Tổng quan địa lý

Đồng Tháp Mười được thành tạo trong 
phân đại đệ Tứ (Qiv), trên hai đơn vị trầm tích Pleistocen và Holocen cùng với giai đoạn trung gian của Hậu Pleistocen. Quá trình thành tạo hoàn tất của Đồng Tháp Mười được bắt đầu sau thời kỳ Hậu Pleistocen cách đây khoảng 8.000 năm. Nền trầm tích Pleistocen với các vật liệu phù sa cổ không đồng đều được phủ lên bằng vật liệu mới của trầm tích Holocen. Do đó, có thể tìm thấy những gò phù sa cổ và những giồng cát cổ nằm chen lẫn giữa cánh đồng phù sa mới. Dước tác động của nhiều yếu tố tự nhiên và con người, thông qua sự phong hóa với các tiến trình sinh – hóa xảy ra đã hình thành nhiều nhóm đất khác nhau trong Đồng Tháp Mười. Đất phù sa cổ, đất giồng cổ,đất phèn, đất phù sa và phù sa ven sông.Đồng Tháp Mười là một đồng lụt kín được bao quanh bởi các giồng đất cao ven biên giới Việt Nam – Campuchia, đê tự nhiên dọc sông Tiền và giồng biển cổ dọc theo quốc lộ 1A (Tân Hiệp – Nhị Quý, Cai Lậy) và chặn lại bởi sông Vàm Cỏ Đông (Long An).

Hệ sinh thái


Hệ sinh thái đồng cỏ ngập nước theo mùa khá phổ biến và chiếm ưu thế trong vùng này xưa kia. 
Thảm thực vật với các quần xã thay đổi theo môi trường tự nhiên trong từng vùng. Những cánh đồng hoàng đầu ấn (Xyris indica), cỏ năng(Eleocharis sp.), cỏ ống (Panicum repens), cánh đồng cỏ mồm (Ischaemum sp.), cỏ lác (Cyperus sp.) trải rộng khắp vùng này xưa kia vẫn còn tìm gặp khá nhiều ở các khu bảo tồn và vườn quốc gia, mặc dù tính phong phú giữa các loài đã và đang bị suy giảm.
Hệ sinh thái rừng tràm (
Melaleuca spp.) có thể tìm thấy khá nhiều trong đồng bằng ngập nước. Phạm vi xuất hiện của hệ sinh thái này khá đa dạng, từ vùng triền của đất dốc tụ cho đến đất phèn hoạt động. Những cánh rừng tràm có thể phát triển trên những cánh đồng, đồng thời cũng có thể phát triển khá nhiều dọc theo sông rạch. Tuy nhiên, những cánh rừng tràm nguyên sinh dường như không còn nữa mà chỉ có thể tìm thấy một phần rừng tràm tái sinh với diện tích quá nhỏ so với một vùng Đồng Tháp Mười rộng lớn.Sự tương tác giữa các yếu tố tự nhiên: địa mạo, trầm tích, đất, nước và các yếu tố khác đã hình thành những cảnh quan tự nhiên với các hệ sinh thái đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười.
Các loài sen–súng (Nymphaea sp.) cùng các loài thực vật thủy sinh khác chiếm ưu thế và đặt trưng ở các vùng đầm lầy đã bị thu hẹp diện tích do quá trình thoát thủy cải tạo đất cho mục tiêu sản xuất nông nghiệp.
Có thể cho rằng các hệ sinh thái tự nhiên cùng với tính đa dạng sinh học đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười đã bị suy giảm nghiêm trọng, cảnh quan tự nhiên đã thay đổi sau một thời gian khai phá cho mục tiêu phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển kinh tế nông nghiệp chung cho vùng hạ lưu châu thổ sông Cửu Long. Trước nguy cơ suy giảm tính đa dạng sinh học và hủy diệt các nguồn gen quý hiếm, một số nỗ lực về công tác bảo tồn và phục hồi tính đa dạng sinh học vùng đất ngập nước trong châu thổ sông Mekong đã được đặt ra. Thông qua những nỗ lực này, các khu bảo tồn thiên nhiên đã được hình thành, và Vườn quốc gia Tràm Chim và Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen là hai khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước rất điển hình được thành lập nhằm thực hiện những mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái vùng đất ngập nước Đồng Tháp Mười.

Danh nhân

  • Võ Duy Dương, thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp cuối thế kỷ 19
Theo Wikipedia